DANH NHÂN ĐÀO DUY TỪ

Thứ tư - 03/05/2017 22:13
LUY DAO DUY TU
LUY DAO DUY TU
ĐÀO DUY TỪ
Đào Duy Từ (1572-1634) tự là Lộc Khê, ông là người tài kiêm văn võ nhưng chỉ vì là con nhà hát xướng nên không được chính quyền Đàng Ngoài trọng dụng. Trước điều bất công này ông đã trốn vào Nam, tìm minh chúa tự gây dựng cho mình một sự nghiệp hiển hách. Năm 1627, ông được gặp chúa Nguyễn Phúc Nguyên và sau khi được chúa trọng dụng, phong ông chức Nha úy nội tán trông coi việc quân cơ và chính sự. Ông đã đem hết sức mình phò trợ chúa Nguyễn, đóng góp công lao to lớn trên nhiều lĩnh vực, nhất là lĩnh vực quân sự, giúp chúa Nguyễn xây dựng, bảo vệ và phát triển lãnh thổ Đàng Trong.
Đào Duy Từ sinh ra tại làng Hoa Trai, xã Vân Trai, huyện Ngọc Sơn, phủ Tĩnh Gia, nay là làng Giáp Nỗ, xã Nguyên Bình, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa.
Ngay từ nhỏ, Đào Duy Từ đã nổi tiếng thông minh đĩnh ngộ, học một biết mười. Năm 14 tuổi, ông vào học trường của hương cống Nguyễn Đức Khoa và được thầy hết sức khen ngợi về tài học rộng, hiểu nhiều, đồng thời cho rằng sau này ông sẽ thành đạt trên bước đường cử nghiệp.
Thế nhưng theo luật lệ của triều đình lúc bấy giờ thì con cái những người làm nghề ca xướng đều không được quyền thi cử.
Khi mới vào Nam, ông đi tìm chúa Nguyễn nhưng đến nơi thì không gặp do chúa đã đi xa để kinh lý. Ông dò được là Khám lý Trần Đức Hòa vốn là một thân tín của chúa Nguyễn nên đi đến Quy Nhơn để kiếm cơ lập thân. Ông đi đến thôn Tùng Châu (nay thuộc thị trấn Bồng Sơn, huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định) để ở chăn trâu cho nhà phú hộ Chúc Trịnh Long, cách nhà Trần Đức Hòa một con sông nhỏ. Tâm ý của Duy Từ là ẩn mình, chờ đợi thời cơ, đồng thời dò xét chính sự Đàng Trong. Con trai của vị phú hộ tên là Chúc Hữu Minh, mở Tùng Châu thi xã, lấy Duy Từ làm thư đồng để phục vụ các bằng hữu văn chương. Có lần, khi Duy Từ đánh trâu về, cầm roi đối đáp văn sử xưa nay với các danh sĩ, chứng tỏ mình thông hiểu mọi điều.
Sau buổi đối đáp với các nhà nho ở Tùng Châu, tiếng tăm Đào Duy Từ - một kẻ chăn trâu kỳ lạ, tài giỏi hơn người, lan truyền khắp nơi. Bấy giờ có vị quận công, anh em kết nghĩa với chúa Nguyễn rất có thế lực là Khám lý Trần Đức Hòa hay tin. Ông này cho đón Đào Duy Từ đến nhà chơi. Qua các buổi chuyện trò, đàm đạo văn chương, Khám lý họ Trần đã nhận thấy Duy Từ có học vấn uyên bác, lại tỏ ra chí lớn hơn người, bèn đem lòng yêu quý và gả người con gái là Trần Thị Chính cho Từ làm vợ.
Khi đã có chốn nương thân vững chắc, Đào Duy Từ mới dần lộ rõ chí hướng phò vua giúp nước đã nung nấu suốt mấy chục năm cho bố vợ biết. Ông đưa tác phẩm "Ngọa Long cương vãn" của mình cho Trần Đức Hòa xem. Nội dung bài chính là nỗi lòng của Duy Từ, tự ví mình như Gia Cát Lượng (là một nhà quân sự, chính trị nổi tiếng bên Trung Quốc, vì chưa được thi thố tài năng, nên còn ẩn náu ở chốn Ngọa Long). Nỗi lòng đó của Duy Từ được thể hiện rõ ở đoạn kết:
Chốn này thiên hạ đã dùng
Ắt là cũng có Ngọa Long ra đời
Chúa hay dùng đặng tôi tài
Mừng xem bốn bể dưới trời đều yên.
Khám lý Trần Đức Hòa xem đi xem lại bài ''Ngọa Long cương vãn'' của con rể, thấy văn từ khoáng đạt, điển tích tinh thông, ý chí mạnh mẽ, hoài bão lớn lao, đã tấm tắc khen, rồi tìm cách dâng lên chúa Nguyễn xem để tiến cử Duy Từ với chúa.
Bấy giờ chúa Nguyễn là Sãi Vương Nguyễn Phúc Nguyên (16l3-l635) đang có ý định kén chọn nhân tài để dựng nghiệp lớn, nên khi xem xong bài vãn của Đào Duy Từ đã rất tâm đắc, bèn lệnh cho Khám lý Trần Đức Hòa dẫn ngay người con rể vào gặp chúa. Gia đình nhà vợ vội may sắm quần áo, khăn mũ hợp nghi thức để Duy Từ mặc vào chầu cho thật chỉnh tề nhưng Duy Từ nhất mực từ chối, viện lẽ rằng mình không dám dùng, vì chưa có chức tước.
Trước buổi tiếp, Sãi Vương muốn thử tư cách Đào Duy Từ nên chúa mặc y phục xuềnh xoàng, cầm gậy đứng trước cửa, thái độ lơ đãng, như chờ một kẻ hầu nào đấy. Thấy vẻ thờ ơ của chúa Nguyễn, Duy Từ định bỏ về, Sãi Vương thấy vậy biết Đào Duy Từ là kẻ tài giỏi thực, tính khí khái, chứ không giống những bọn tầm thường, chỉ cốt quỵ lụy, được ra mắt chúa, hòng tiến thân để kiếm chút bổng lộc, chức tước mà thôi. Chúa bèn quay vào nội phủ, thay đổi áo quần và bảo thái giám đem áo mũ ban cho Duy Từ, rồi mời vào sảnh đường tiếp kiến.
Tiếp đó, Đào Duy Từ liền đưa ra sách lược giúp chúa, trong đó chú trọng năm điểm:
Thứ nhất, khuyên chúa nên nối nghiệp Tiên vương diệt họ Trịnh để thống nhất sơn hà.
Thứ hai, đánh chiếm Chiêm Thành để mở mang bờ cõi phương Nam, làm thành một nước rộng lớn hơn Đàng Ngoài của chúa Trịnh.
Thứ ba, chiêu mộ dân khai khẩn đất hoang để sản xuất nông nghiệp. Trước là có nhiều thóc gạo làm lương thực, sau là có nhiều người để tăng quân số.
Thứ tư, chỉnh đốn nội trị. Về cai trị, chọn người tài giỏi có công tâm không kể thân sơ ra giúp nước, còn những kẻ tham nhũng thì trừng phạt và thải hồi. Về dân sinh, giảm bớt sưu thuế cho dân đỡ khổ, nâng cao đời sống của dân, giúp đỡ họ làm ăn cày cấy, buôn bán. Về giáo dục, mở ra nhiều trường học, ra lệnh cho mọi người đều phải đi học, dân có biết chữ mới biết yêu nước thiết tha. Như thế dân không bị áp bức, lại được sống sung túc thì bao giờ cũng tận tâm phò chúa.
Thứ năm, muốn cho quân đội hùng hậu phải mộ thêm lính, xây đắp đồn lũy, huấn luyện cho quân lính có tinh thần, có kỷ luật.
Kể từ buổi đó, Đào Duy Từ được chúa Sãi Vương tin yêu, trọng vọng, tôn làm quân sư, luôn ở cạnh chúa để bàn bạc việc quốc gia trọng sự. Ông được phong chức Nha úy nội tán, tước Lộc Khê hầu, nên người đời vẫn quen gọi ông là Lộc Khê.
Đào Duy Từ là người có tài kiêm văn võ. Giúp việc chúa Nguyễn chỉ có tám năm cuối đời mà ông đã được đánh giá rất cao là người đứng đầu trong hàng khai quốc công thần, có công lớn giúp dòng họ Nguyễn từ một thế lực nhỏ buổi đầu còn phụ thuộc nhà Lê - Trịnh ở phía Bắc, nhanh chóng trưởng thành lớn mạnh, có khả năng "hùng cứ một phương", "làm nên nghiệp bá cõi nam".
Đào Duy Từ không chỉ là một người hùng luận am hiểu thời thế và giúp chúa Nguyễn vạch ra nhiều kế sách quân sự quan trọng đối phó có hiệu quả với Đàng Ngoài, mà còn để lại cho đời cả một pho binh thư rất có giá trị, đó là sách Hổ trướng khu cơ viết bằng chữ Hán, chia thành ba tập: Tập Thiên, tập Địa và tập Nhân.
Trong Hổ trướng khu cơ, tác giả đã tham bác nhiều binh thư, binh pháp trong và ngoài nước, đồng thời nêu lên những quan điểm lý luận của mình về binh pháp nói chung cũng như về các lĩnh vực cụ thể của phép dụng binh nói riêng như vấn đề sử dụng các loại quân và các đồ binh khí kỹ thuật trong các điều kiện địa hình, thời tiết, vai trò của các tướng lĩnh cùng các phép tắc chọn tướng, luyện quân…
Các tri thức quân sự trong Hổ trướng khu cơ vừa mang tính kế thừa các tri thức quân sự thời trước, vừa có những phần phát triển sáng tạo của bản thân tác giả.
Hệ thống đồn lũy lừng danh của chúa Nguyễn thế kỉ XVII ở Đàng Trong gắn liền với tên tuổi nhà thơ, nhà quân sự kiệt xuất Đào Duy Từ. Chính hệ thống đồn lũy này đã đóng vai trò quan trọng giúp các chúa Nguyễn đẩy lùi các cuộc tiến công của quân đội Đàng Ngoài trong gần nửa thế kỉ, giữ yên bờ cõi xứ Đàng Trong, buộc chúa Trịnh phải lui quân, lấy sông Linh Giang làm ranh giới phân chia đất nước.
Theo các tài liệu thành văn như Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn, Đại Nam thực lục, Đại Nam nhất thống chí, Khâm Định Việt sử thông giám cương mục của Quốc sử quán triều Nguyễn thì trên đất Quảng Bình vào thế kỉ XVII có tất cả 4 lũy là Trường Dục, Nhật Lệ, Trường Sa và Trấn Ninh.
Lũy Trường Dục là hệ thống chiến lũy được xây dựng từ tháng 3 năm Canh Ngọ (1630) chạy từ chân núi Trường Dục băng ngang ra đến bãi cát đầu phá Hạc Hải. Mùa xuân năm 1630, sau khi chúa Nguyễn Phúc Nguyên (1613-1634) giành thắng trong trận kịch chiến với quân Trịnh trên sông Nhật Lệ năm 1627 nhưng vẫn rất lo lắng vì thế lực của chúa Trịnh Tráng (1623-1657) rất mạnh và không từ bỏ ý đồ thôn tính Đàng Trong, bắt chúa Nguyễn phải thuần phục, Đào Duy Từ đã đệ trình kế hoạch xây dựng lũy Trường Dục để ngăn quân Trịnh, giữ được toàn vẹn lãnh thổ và mưu dựng đại nghiệp: “Nay dựng nghiệp bá vương, cốt phải vẹn toàn. Người xưa nói không nhọc một lần thì không rảnh được lâu, không tốn công một lần thì không được yên mãi. Tôi xin lấy dân và quân hai xứ Thuận Hóa và Quảng Nam đắp lũy đài, trên từ núi Trường Dục đến bãi cát Hạc Hải, nhân thế đặt lũy hiểm cho vững việc phòng bị ngoại niên, quân giặc dẫu đến cũng không làm gì được” (2,16).
Lũy Nhật Lệ được xây dựng vào năm Tân Mùi 1631 nhằm tăng cường phòng thủ chống Trịnh: “Tôi xem từ cửa biển Nhật Lệ đến núi Đâu Mâu thuộc Đồng Hới, ngoài có khe ngòi sâu, bùn lầy dùng làm hào, trong đắp lũy đài lại hiểm hơn lũy Trường Dục” (2,19). Chúa ngại khó, Đào Duy Từ liền cáo ốm dùng thư để khuyên chúa, chúa Nguyễn bèn sai Đào Duy Từ cùng danh tướng Nguyễn Hữu Dật ra Quảng Bình thị sát thế núi, thế sông vùng Động Hải để xây thêm thành lũy. Sau chuyến đi, các tướng Nguyễn lại vạch kế hoạch về việc đắp thêm một lũy mới: “Lũy được xây dựng cao 1 trượng 5 thước, phía ngoài đóng cọc gỗ lim, làm 5 bậc, voi ngựa đi được, dựa núi men khe dài hơn 3.000 trượng, mỗi trượng đặt một khẩu súng lớn quá sơn, cách 3 hoặc 5 trượng lập 1 pháo đài, đặt một khẩu súng nòng lớn. Thuốc đạn chứa như núi” (3,57).
Lũy Nhật Lệ và lũy Trường Dục được xây xong nhưng chúa Nguyễn vẫn chưa thực sự yên lòng, vì mặt đông vùng đất này vẫn trống. Để đề phòng quân Trịnh có thể đột nhập theo hướng này, năm 1634, chúa Nguyễn lại sai tướng Nguyễn Hữu Dật tổ chức đắp lũy Trường Sa. Lũy dài khoảng 7km chạy từ Sa Động đến Huân Cát thuộc địa phận Bảo Ninh, hữu ngạn sông Nhật Lệ ngày nay. Lũy Trấn Ninh được xây dựng năm 1662, đối diện với lũy Trường Sa làm thế yểm trợ cho nhau.
Hệ thống lũy do Đào Duy Từ trực tiếp chỉ huy xây dựng chính là những phòng tuyến quân sự bất khả xâm phạm, là những công sự chiến đấu phòng ngự. Chính điều này đã làm nổi bật tài năng quân sự của ông thể hiện ở nhiều mặt.
Thứ nhất, Đào Duy Từ đã lợi dụng triệt để những thuận lợi của điều kiện tự nhiên, địa thế núi sông, địa hình để xây dựng phòng tuyến. Cụ thể, Đào Duy Từ đã chọn sông Nhật Lệ làm điểm then chốt để xây dựng hệ thống phòng thủ. Xét về thực tế thì vị trí này không thuận lợi như ở những nơi khác vì sông Nhật Lệ không cắt ngang địa hình Đông - Tây mà chạy dọc Nam - Bắc thuận tiện cho đối phương thọc sâu vào vùng hậu cứ. Đào Duy Từ cũng không sử dụng các điểm cao của thiên nhiên đã sẵn có để xây thêm thành quách, đánh địch từ trên cao xuống mà lại chỉ muốn đóng quân nơi đất thấp, dựng phòng tuyến nơi bình địa ven sông. Xét qua thực địa thì toàn bộ hệ thống lũy này đều nằm trong một vùng đất như một cái chảo lật ngửa. Bốn bề đều là điểm cao bao vây, chính giữa con sông Nhật Lệ như một đường thẳng bổ đôi cái chậu thành hai mảnh làm cho thế đất vùng đáy chậu đã mất đi sự liên hoàn mà còn tạo ra con đường đi thẳng vào trung tâm. Cái địa thế ấy được cho là tử địa, kiểu đất xấu nhất trong bốn kiểu đất được nhắc đến trong sách Hổ trướng khu cơ của chính tác giả: “Chỗ nào bốn bề đều có gò núi, ở giữa bằng phẳng, hình như cái chậu ngửa thì gọi là đất tử ngục, chớ đóng dinh, sợ giặc dựa cao mà đánh xuống” (1, 520). Thế nhưng trên vùng đất ấy những bức lũy do Đào Duy Từ dựng lên đã trở thành những pháo đài bất khả xâm phạm suốt gần 50 năm giao tranh Trịnh - Nguyễn. Vậy yếu tố nào đã biến vùng đất chết ấy thành vùng địa lợi, vùng đất sống và vô địch? Rõ ràng Đào Duy Từ đã nhìn nhận vấn đề bằng con mắt toàn cục. Một mặt ông đã thấy đây là vùng đất hẹp nhất, mỏng nhất của cả nước có thể ngăn quân Trịnh mà sự hao phí sức người sức của ít nhất và thời gian điều binh bố trận lại nhanh nhất. Mặt khác, ông thấy được vùng này là điểm quy tụ các đầu mối giao thông thủy bộ từ Bắc vào thời bấy giờ. Nếu bít được nó ở phía trước tức mặt ngoài thì đã khóa chặt con đường tấn công của đối phương lại. Còn ở phía sau tức mặt trong là con đường tiếp viện, vận chuyển quân lương thuận tiện không ai quấy phá được. Đây chính là điểm khác biệt trong tư duy quân sự, đồng thời thể hiện tài năng và tầm nhìn của Đào Duy Từ.
Thứ hai, Đào Duy Từ đã thể hiện sự sáng tạo trong binh pháp. Điều này được thể hiện khi ông cho xây đoạn lũy từ Cầu Dài đi sau lưng Đồng Hới ngày nay về tận cửa biển Nhật Lệ. Đoạn lũy này có nhiều điều để chúng ta phải suy ngẫm về tài năng quân sự của ông. Đó là đoạn lũy đặt con sông Nhật Lệ ở sau lưng doanh trại và công sự là điều đại kỵ của binh pháp thời cổ. Lũy lại được xây trên một đồng bằng trống trải, thấp hơn vòng tròn điểm cao của đối phương chiếm lĩnh mỗi khi giao chiến, trước mặt không có chướng ngại vật, hào rãnh hiểm yếu nên rất dễ bị tấn công từ hai mặt đường thủy từ sông lên và đường bộ từ mặt chính diện. Ngoài ra, đoạn sông Cầu Dài, lũy không đắp ngang, qua lại phải dùng đò, đó là chỗ yếu của tuyến phòng ngự, chủ nhân của bức lũy thì khó giữ mà đối phương thì dễ đánh. Bởi thế quân Trịnh thường đánh vào vào đoạn lũy này vì cho rằng đoạn này quân Nguyễn có nhiều chỗ yếu, hở cả về địa thế lẫn lực lượng mà tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu là điều được binh pháp nhắc đến. Đánh vào chỗ này quân Trịnh có nhiều thuận lợi là đất liền, trước mặt lũy không có hào sâu, sông rộng, đầm lầy ngăn cách, như thế dễ tiếp cận thành lũy. Như vậy, rõ ràng đây là đường tiến quân lợi thế nhất của quân Trịnh, nhưng cũng chính điều này đã thể hiện được thiên tài quân sự và sự sáng tạo của Đào Duy Từ đó là kế buộc đối phương phải đánh theo sự bố trí, sắp xếp của mình. Mà một khi đã xếp đặt được như vậy thì có thể biến dữ thành lành, biến nguy thành an, biến bại thành thắng và tất thắng.
Tóm lại, nhìn tổng thể hệ thống lũy do Đào Duy Từ và các cộng sự tạo nên mới có thể thấy được tài năng của ông và từ đó biết được tại sao quân Trịnh luôn thất bại khi tấn công vào đây.
Thứ nhất, hệ thống lũy đã phát huy cao độ tính ưu việt của đất thông địa và viễn địa. Đã vô hiệu hóa được các cao điểm thuận lợi của đối phương trong đất tử ngục, bịt được các đường tấn công của đối phương, giữ được đường tiếp viện và vận chuyển quân lương của mình. Khi quân Trịnh phải rời bỏ cao điểm xung quanh để tiến sát chân lũy thì quân Nguyễn trở thành kẻ từ trên cao đánh xuống còn quân Trịnh từ dưới thấp đánh lên. Vì thế, quân Nguyễn ở thế nhàn đợi kẻ địch ở thế nhọc đúng với phép dụng binh.
Thứ hai, làm mất khả năng đánh bất ngờ của quân Trịnh - một yếu tố tối quan trọng trong thuật dùng binh. Bởi vì khi rời khỏi các điểm cao xung quanh cái chảo lật ngửa thì quân Trịnh đã tự phơi mình dưới con mắt của quân Nguyễn, nhất cử nhất động của quân Trịnh đều bị giám sát nghiêm ngặt và dễ dàng bị bẻ gãy khi liều lĩnh tấn công.
Thứ ba, việc Đào Duy Từ đã rào kín cửa biển Nhật Lệ bằng cọc sắt đã không cho phép thủy quân của chúa Trịnh phối hợp tác chiến với bộ binh, buộc bộ binh phải đơn độc chiến đấu và như vậy thất bại là điều đương nhiên.
Thứ tư, bức lũy bắt đầu từ lũy Đâu Mâu đã ngăn không cho bộ binh quân Trịnh xuyên rừng đánh vào phía sau quân Nguyễn. Hai đầu lũy là hai quả núi Thần Đinh và Đâu Mâu án ngữ, lại thêm sông Long Đại cắt ngang chính giữa, chặn mũi kỵ binh nên quân Nguyễn chỉ cần đối phó ở mặt chính diện mà không lo bị đánh lén.
Như vậy, suốt trong 3 năm, chúa Nguyễn theo mưu kế của Đào Duy Từ đã huy động sức người, sức của, xây đắp nên chiến lũy bề thế với tổng chiều dài hơn 30 cây số. Đây là hệ thống thành lũy liên hoàn, có nhiều tầng, nhiều lớp, nhiều tuyến chiến đấu. Trong điều kiện trang bị của binh lính hầu hết là mã tấu, dao dài thì hệ thống đồn lũy được chúa Nguyễn xây dựng kiên cố với việc phòng thủ thâm sâu, quân lính đối phương từ xa tới không dễ gì công phá được.
Nói tóm lại, xét trên lĩnh vực quân sự, tài năng của Đào Duy Từ được khẳng định ở hai phương diện: về mặt lý luận đó là sách Hổ trướng khu cơ - cuốn binh thư tiêu biểu đã kết tụ đầy đủ, sâu sắc tư tưởng quân sự của Đào Duy Từ và được xem là một trong những cuốn sách quân sự có ảnh hưởng to lớn trong thời trung đại; về mặt thực tiễn, hệ thống lũy Đào Duy Từ với các lũy Nhật Lệ, Trường Dục là công trình thể hiện tư chất, tầm vóc của ông trong nghệ thuật dụng binh và nghệ thuật phòng thủ, góp phần quan trọng giúp chúa Nguyễn đẩy lùi những cuộc tấn công xâm lấn của chúa Trịnh ở Đàng Ngoài giữ yên bờ cõi. Chỉ có tám năm làm quan dưới thời chúa Nguyễn, một chặng đường ngắn ngủi nhưng Đào Duy Từ đã kịp ghi lại những nét vàng son cho cuộc đời mình bằng cách xây dựng cho chúa Nguyễn một cơ sở xã hội vững chắc và một quân đội hùng mạnh, xứng đáng được coi là một nhà quân sự kiệt xuất và là đệ nhất công thần của chúa Nguyễn.
 
Tài liệu tham khảo:
1. Ủy ban khoa học xã hội và nhân văn (1977), Binh thư yếu lược Hổ trướng khu cơ, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.
2. Tôn Thất Bình (2001), 12 danh tướng thời Nguyễn, Nxb Thuận Hóa.
         3. Sở Văn hóa Thông tin tỉnh Quảng Bình (1992), Bảo tồn di tích lũy Đào Duy Từ và Quảng Bình Quan, Quảng Bình.
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

  • Đang truy cập3
  • Hôm nay205
  • Tháng hiện tại2,194
  • Tổng lượt truy cập124,253
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây