DANH NHÂN NGUYỄN HỮU CẢNH

Thứ tư - 03/05/2017 21:43
DANH NHÂN NGUYỄN HỮU CẢNH
NGUYỄN HỮU CẢNH (1650-1700)
NGƯỜI CÓ CÔNG MỞ CÕI PHƯƠNG NAM
Ông sinh năm Canh Dần - 1650. Quê quán Quảng Bình
Theo gia phả tên ông là Thành, tên húy là Cảnh, khi triều đình nhà Nguyễn tặng phong tước Vĩnh An hầu thì cũng ban tặng tên là Kính.
Ông sinh ra và lớn lên đúng thời kỳ cuộc chiến giữa hai tập đoàn phong kiến Trịnh - Nguyễn diễn ra quyết liệt nhất. Mới sinh thì cha bị bắt giam vì bị dèm pha. Nguyễn Hữu Dật được tha, được phục chức, được trọng dụng, thì lo lăn xả vào cuộc chiến tiến đánh đến sông Lam (1655-1660) và đánh chặn quân Trịnh tiến công lần thứ sáu (1661-1662). Tuổi thành niên, bốn anh em Nguyễn Hữu Hào, Nguyễn Hữu Trung, Nguyễn Hữu Thành (Cảnh), Nguyễn Hữu Khắc cùng lớn lên, cùng kế nghiệp binh đao nơi trận mạc sát cánh chiến đấu cùng cha trên chiến lũy Trấn Ninh, Động Hải trong trận quyết chiến chiến lược cuối cùng đối chọi với quân Trịnh đến chiến thắng năm 1672, kết thúc cuộc chiến kéo dài 52 năm (1620-1672).
Sử sách nói về tuổi trẻ của Nguyễn Hữu Cảnh chỉ cho biết: Ông là người có tài làm tướng.
Sách Đại Nam nhất thống chí chép: “Hữu Kính có tài làm tướng, được trao chức Cai cơ, đem quân đi đánh dẹp được Chiêm Thành thăng Chưởng cơ lãnh Trấn thủ dinh Bình Khang. Mùa xuân năm Mậu Dần (1698), đời Hiển Tông (Phúc Chu) đi kinh lý Chân Lạp, lấy đất Đông Phố, đặt phủ huyện ở Gia Định, khi đem quân về, vẫn giữ chức trấn thủ như cũ. Chân Lạp làm phản, lại đem quân đi dẹp yên, khi trở về, đến Rạch Gầm thì mắc bệnh chết; tặng Chưởng dinh, thụy là Trung Cần. Các địa phương Nam Vang, Biên Hòa và Định Tường đều lập đền thờ; năm Gia Long thứ tư liệt làm Thượng đẳng công thần, thờ ueephụ ở Thái Miếu”.
Sự nghiệp lưu danh sử sách của ông trong tám năm cuối đời gắn với nhiệm vụ bình ổn biên viễn, mở cõi bờ Tổ quốc vào phương Nam. Lịch sử như dồn nén trọng trách lên vai Nguyễn Hữu Cảnh sứ mệnh thiêng liêng người đi mở cõi.
Bà Tranh vua Chiêm Thành bỏ lệ cống nộp, đắp lũy, quấy phá Diên Ninh (Khánh Hòa) năm 1692. Trấn thủ Bình Khương cấp báo. Nguyễn Hữu Cảnh được cử Thống binh ba đội binh của ba dinh: Chính dinh, Quảng Nam, Bình Khương đi chinh phạt. Tháng giêng năm Quý Dậu (1693), quân Nguyễn đánh bại quân Chiêm, bắt Bà Tranh, Tả Trà viên Kế Bà Tử và hoàng thân là nàng Mi Bà Ân, lui binh, mang 3 tù binh quan trọng ấy về vương phủ. Bình Thuận được chúa Nguyễn Phúc Chu đổi thành phủ và buộc người Chiêm đổi cách ăn mặc theo phong tục Việt. Người chiêm phản đối, người Hoa xúi dục, người Chiêm nổi loạn ở Bình Thuận. Nguyễn Hữu Cảnh được tái cử đi dánh dẹp với đặc quyền tùy nghi xử trí.
Dẹp yên quân nổi loạn, vua Chiêm hàng phục, Chiêm Thành đổi thành trấn Thuận Thành. Công cuộc bình Chiêm hơn 600 năm từ khi nhà Lý năm 1069 vào Nam bắt Chế Củ, đổi đất Địa Lý, Ma Linh, Bố Chinh (vùng Quảng Bình - Vĩnh Linh) đến 1694, toàn bộ Chiêm Thành được sát nhập vào Đại Việt. Nguyễn Hữu Cảnh được thăng chức Chưởng cơ, trấn thủ dinh Bình Khương (Khánh Hòa).
Sách “Phủ biên tạp lục” của Lê Quý Đôn chép: “Năm thứ 19, Mậu Dần (1698) sai Chưởng cơ Thành Lễ hầu đem quân đi đánh Cao Miên, lấy đất Đồng Nai đặt làm hai huyện Phước Long và Tân Bình phủ Gia Định, lập hai dinh Trấn Biên và Phiên Trấn, mở đất nghìn dặm, được bốn vạn hộ”.
Nguyễn Hữu Cảnh không phải là người đầu tiên đi khai mở ra vùng đất mới. Vì trước khi ông đến đã có 4 vạn hộ (có tài liệu viết là 4 vạn dân). Dân bản địa là các tộc người thiểu số, dân lưu tán đa phần người Việt, một phần ít người Hoa tị nạn. Họ sống quần cư theo từng tộc người riêng biệt, không có thiết chế hành chính bảo đảm nên không có chủ quyền lãnh thổ, không được bảo đảm về trị an, do đó không thể an cư lạc nghiệp. Trước khi Nguyễn Hữu Cảnh đến, đã xảy ra các cuộc tranh chấp nên đã có các cuộc chinh phạt Chân Lạp, bình ổn dân tình, trong đó có Nguyễn Hữu Hào, anh trai ông làm Thống suất.
Công lớn của Nguyễn Hữu Cảnh trong lần kinh lược Thủy Chân Lạp năm 1698 này là vừa kinh lý bình ổn tình hình, vừa thiết lập thể chế hành chính cai quản cả miền đất mới, cư dân mới với thiết chế chặt chẽ từ phủ, đến huyện, đến từng thôn ấp, đến từng người dân. Để bảo đảm bình ổn nơi biên viễn lâu dài, ông còn thiết lập hệ thống dinh, cơ, đội, ngũ theo thiết chế quân quản; cắt đặt cấp chức: Lưu thủ, Cai bạ, Ký lục, Cai cơ, Đội; gồm cả thủy binh, bộ binh, tinh binh và thuộc binh. Để thực hiện nhiệm vụ mang tầm chiến lược quốc gia, ông bám trụ để đốc suất việc thực thi trong thực tế.  Ông còn chủ trương vận động dân ngũ Quảng (Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Đức - Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngãi) của xứ Thuận Quảng gắn bó với chúa Nguyễn, di dân lập ấp phương Nam. Để gắn bó cội nguồn, người di cư mang tên làng, tên đất vào Nam nơi miền quê mới. Họ là những thủy tổ trong thế hệ các thủy tổ của cộng đoàn nhân dân miền Nam.
Nguyễn Hữu Cảnh còn để lại cho lịch sử bài học về đại đoàn kết các dân tộc, đoàn kết quốc tế trong cách ứng xử bình đẳng giữa các cộng đồng người Việt, người Chăm, người Khơme, người Hoa và các dân tộc thiểu số bản địa. Vì thế khi Nặc Ông Thu vua Chân Lạp - Cao Miên đắp lũy, cho quân cướp phá các dinh trấn bên Việt, Nguyễn Hữu Cảnh lại được cử làm Thống suất. Cùng các tướng Cai bạ Phạm Cẩm Long làm tham mưu, Lưu thủ Trấn Biên Nguyễn Hữu Khánh làm tiên phong, ông còn huy động tướng sĩ của Trần Thượng Xuyên là người Hoa mới nhập tịch cùng hợp lực, điều quân hai dinh Bình Khương và Trấn Biên mới lập cùng tham gia, cho thấy tài tổ chức và khả năng thu phục nhân tâm của ông.
Trên đường hành quân bình Chân Lạp, ông cho đắp lũy Hoa Phong (Long Hồ - Vĩnh Long ngày nay) để phòng thủ lâu dài; cho các đội binh thâm nhập vào dân cư để nắm tình hình và lo hậu cần tại chỗ. Lúc ra trận, ông phát huy vai trò đội quân của Trần Thượng Xuyên; đồng thời đề cao quân phong, quân kỷ của đại quân tạo nên quân uy oai phong dũng mãnh trấn áp đối phương từ đầu. Vì thế, quân Chân Lạp khiếp sợ bỏ chạy, mở cổng thành xin hàng. Ông phủ dụ dân binh Chân Lạp bằng điều nhân nghĩa và lòng nhân ái bình ổn dân tình rồi lui binh về nước. Trên đường về, ông khuyến dụ thổ quan không được hà khắc với dân chúng, các tộc người chung sống an hòa bên nhau.
Dọc đường bị bạo bệnh, ông than rằng: “Ta muốn nối chí ông cha, hết lòng trả ơn nước, nhưng vì số trời có hạn, sức người không thể làm gì được!”. Ông trút hơi thở cuối cùng khi đoàn thuyền chiến mới đến Rạch Gầm (Định Tường - Tiền Giang) ở tuổi 51 (1650-1700).
Ngày ông qua đời chưa được xác định chính xác. Có tài liệu nói mất ngày mồng 9 tháng 5; ở Đồng Nai giỗ ngày 15; trong gia phả ghi ngày 19 tháng 5 và lễ giỗ tại đền thờ Vĩnh An hầu ngày 19 tháng 5.
Sự nghiệp mở mang bờ cõi phương Nam nước Việt của Nguyễn Hữu Cảnh diễn ra tròn 8 năm cuối cuộc đời ông (1692-1700). Tám năm, với một vùng đất từ Ninh Thuận đến Nam Bộ trở thành lãnh thổ Việt Nam với thiết chế hành chính khẳng định chủ quyền lãnh thổ quốc gia được hình thành. Công lao của ông với lịch sử mở mang cõi bờ thật vĩ đại. Quá trình Nam tiến diễn ra liên tục trong suốt 7 thế kỉ, đến cuối thế kỉ XVII, “Nguyễn Hữu Cảnh đã làm nốt phần việc mà lịch sử Nam tiến đã mở ra. Ông định cương vực phía Nam Việt Nam, đại thể như cương vực hiện thời của nước ta… Ông thuộc lớp khai cơ - theo nghĩa người đầu tiên bố trí hệ thống quản lý Nhà nước trên miền đất mới. Ý nghĩa quan trọng nhất của việc làm này là dân lưu tán được thừa nhận là công dân Việt Nam, ruộng đất khai phá được vào sổ bộ chính thức, làng mạc được bảo vệ như mọi làng mạc của lãnh thổ Việt Nam”. (Nhớ Nguyễn Hữu Cảnh - Trần Bạch Đằng).
Với dân khai hoang, ông đã thỏa mãn quyền lợi và tình cảm, nhưng chính ý thức quốc gia dân tộc của dân lưu tán đã tôn vinh Nguyễn Hữu Cảnh. Trong tâm nguyện và sự tôn vinh của nhân dân, Nguyễn Hữu Cảnh thành nhân thần, Thành hoàng, Đức Ông, Đức Thánh, vị phúc thần của nhân dân miền Nam. Điều đó lý giải việc nhiều vùng lập đền thờ Đức Ông và sự bất tử của ông trong lòng dân miền Nam nước Việt.
Ông được nhiều triều đại truy phong công nghiệp. Xin giới thiệu nội dung bản sắc phong của triều Minh Mạng năm thứ ba thờ tại đình Châu Phú - Châu Đốc, An Giang (lời dịch của Giáo sư Thanh Vân): “Sắc phong huân công Lễ Thành hầu, giữ nước che dân rạng công đức, dường ấy đáng khen, cho liệt vào Miếu Vũ. Vâng theo Thế Tổ Cao Hoàng Đế thống nhất đất đai, mừng được một vị thần dân sáng chói, nổi tiếng kế hoạch lớn cao, mãi mãi nhớ bậc thần rạng sắc vẻ vang. Lệnh ban gia phong việc mở mang bờ cõi, uy ngàn dặm sáng rõ bậc Thần Thượng Đẳng. Nhân cho phép liệt vào hàng tế tự tại thành Gia Định, Miếu Hội Đồng; Thần sẽ phụ trợ lê dân của ta. Nên có Sắc lệnh quý gia tặng.
Minh Mạng năm thứ ba tháng 9 ngày 24”.
Ghi công của ông, chúa Nguyễn cho lập đền thờ trên vùng đất phong cấp ở Chương Tín (Phúc Tín). Triều Nguyễn truy phong ông tướcVĩnh An hầu, liệt vào hàng Thượng Đẳng Thần, thờ ở Thái Miếu và ban cho đội lính vệ lăng 1 cai 6 lính để lo việc hộ lăng, thờ tự.
 Phần mộ của ông đến đầu triều Gia Long được người cháu bốn đời đưa về cát táng tại Thác Ro xứ, nay ở thôn Đại Thủy, xã Trường Thủy, huyện Lệ Thủy. Năm 1930, quan Đại thần Nguyễn Hữu Bài đã về dựng bia ở đây.
Mặt trước bia có nội dung phiên âm là:
Nguyễn triều sơ thác Nam trung Khai Quốc Công Thần thượng cấp VĨNH AN HẦU NGUYỄN HỮU CẢNH CHI MỘ Quý hương nhân kỳ huyền tôn thị ư Gia Long sơ niên Hưng Nghĩa đạo Cai đội Năm Đức hầu Nguyễn Hữu Quỳnh”.
Mặt sau bia có nội dung phiên âm là:
“Bảo Đại ngũ niên thất nguyệt thập lục nhật hậu duệ Cơ mật viện Viện trưởng Đại thần Thái tử Thái phó Võ hiển điện Đại học sỹ Phúc Môn bá Nguyễn Hữu Bài, huề tử Hữu Giải, nữ Thị Dương cung yết thụ bi. Cẩn chí!”
Dịch nội dung mặt trước của bia:
“Đây là MỘ CỦA VĨNH AN HẦU NGUYỄN HỮU CẢNH, bậc Khai quốc công thần buổi đầu triều Nguyễn qua đời ở miền Nam. Cháu 4 đời của người dòng Quý hương - cùng quê, cùng họ với chúa - vào năm đầu của triều Gia Long là Cai đội của đạo quân Hưng Nghĩa Năm Đức hầu Nguyễn Hữu Quỳnh (đưa Ngài về cát táng ở đây)”.
Dịch nội dung mặt sau của bia:
“Ngày 16 tháng 7 triều Bảo Đại năm thứ năm (1930), hậu duệ là Đại học sỹ Phúc Môn bá Nguyễn Hữu Bài chức vụ Đại thần Thái tử Thái phó điện Võ hiển kiêm Viện trưởng viện Cơ mật, cùng con trai là Hữu Giải, con gái là Thị Dương cung kính lập bia này kính dâng lên”.
            Sau ngày thống nhất nước nhà, việc tìm hiểu về Đức Ông Vĩnh An hầu Nguyễn Hữu Cảnh mới được chú ý đúng mức hơn. Đến hội thảo khoa học lịch sử ở An Giang năm 1993, đặc biệt cầu truyền hình “NGƯỜI ĐI MỞ CÕI” nhân dịp kỷ niêm nghìn năm Thăng Long - Hà Nội thì công đức của ông được cả nước tôn vinh và tri ân. Ông là một danh nhân văn hóa trong lịch sử trường tồn của dân tộc.
NNC. Trần Văn Chường

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

  • Đang truy cập4
  • Hôm nay150
  • Tháng hiện tại2,139
  • Tổng lượt truy cập124,198
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây