DANH NHÂN VĂN HÓA NGUYỄN HỮU CẢNH

Thứ tư - 03/05/2017 22:31
NGUYEN HUU CANH
NGUYEN HUU CANH
CHƯỞNG CƠ LỄ THÀNH HẦU
NGUYỄN HỮU CẢNH (1650-1700)
Tên tuổi Nguyễn Hữu Cảnh gắn với công lao thiết lập hệ thống hành chính, đặt dinh Trấn Biên và Phiên Trấn, lấy Sài Gòn làm trung tâm vùng đất Nam Bộ. Nguyễn Hữu Cảnh gắn với sự nghiệp mở cõi phía Nam, định hình thể quốc gia Việt Nam. Nguyễn Hữu Cảnh với chính sách ôn hoà lấy nhân đức hướng tới hòa đồng, hòa hợp dân tộc, đoàn kết toàn dân, góp phần hình thành nên một Việt Nam thống nhất và trường tồn. Nguyễn Hữu Cảnh thông minh tài trí, võ nghệ cao cường, lại có một tấm lòng vì nghĩa lớn. Sự nghiệp vĩ đại và cao cả đó không thể không mang dấu ấn của quê hương và gia đình - nơi đã hun đúc và chắp cánh cho tài năng, tôi rèn một nhân cách lớn.
Ngược dòng lịch sử, người ta biết rằng, Nguyễn Hữu Cảnh thuộc đời thứ 9 kể từ hậu tổ Ức Trai Nguyễn Trãi. Sau vụ án Lệ Chi Viên, con cháu Nguyễn Trãi đã sống sót, ly tán nhiều nơi. Trải nhiều lưu lạc, đến đời Triều Văn hầu Nguyễn Triều Văn do bất mãn với chúa Trịnh ở Đàng Ngoài đã di chuyển gia đình định cư tại huyện Phong Lộc1, tỉnh Quảng Bình vào năm 1609. Lúc này con trai của cụ Văn, Nguyễn Hữu Dật, là bố của Nguyễn Hữu Cảnh, bấy giờ cũng mới 6 tuổi. Nhiều cứ liệu vững chắc như gia phả dòng tộc Nguyễn Hữu hiện đang sinh sống tại Quảng Bình và bảng sự tích Tôn thần Nguyễn Hữu Cảnh tại đền thờ Châu Phú (Châu Đốc, An Giang) đều khẳng định quê hương Chưởng Cơ Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh là ở Quảng Bình và ông sinh năm 1650 tại thôn Phúc Tín, huyện Phong Lộc, tỉnh Quảng Bình. Chính nơi đây đã góp phần hình thành tài năng và nhân cách Nguyễn Hữu Cảnh.
Quảng Bình nằm ở Bắc Trung Bộ, phía Bắc ngăn cách với Hà Tĩnh bằng dãy Hoành Sơn sừng sững và sông Linh Giang (sông Gianh), đã một thời là chiến tuyến tương tàn Trịnh - Nguyễn. Cái “eo đòn gánh” Quảng Bình kéo dài đến truông nhà Hồ một thời với bao giai thoại về chốn rừng thiêng nước độc, lắm hổ, nhiều ma. Tuy vậy, nằm trên con đường độc đạo từ Nam ra Bắc và ngược lại, Quảng Bình với thế núi, nguồn sông đã tạo nên một vùng “địa linh” tiếp nhận cái vượng khí của hai miền Nam - Bắc hội tụ về đây. Quảng Bình tuy nhỏ hẹp nhưng địa hình đa dạng và phong phú, từ vùng đá vôi đến núi đồi trung du, từ đồng bằng chiêm trũng đến đồng bằng cát ven biển. Khí hậu thời tiết Quảng Bình khắc nghiệt, “gió Lào, cát trắng”, hạn hán lũ lụt thường xuyên để cho người Quảng Bình thêm rắn rỏi kiên gan trước thiên nhiên bất hòa và khó khăn trong thời loạn lạc. Thiên nhiên Quảng Bình có nhiều phong cảnh đẹp và quý hiếm để con người Quảng Bình nhân hậu thấm đẫm tình người, bồi đắp cho những ý tưởng lãng mạn trong sự nghiệp mở mang bờ cõi. Động Phong Nha, hang Vòm, vườn Dầu Đá Nhảy, núi Thần Đinh, đảo Chim, đảo Hải Âu..., sông Linh Giang, sông Nhật Lệ, sông Kiến Giang... đã tạo nên Quảng Bình hài hòa thế núi, nguồn sông cũng như tính cách con người trầm tĩnh mà linh hoạt, tiềm ẩn một tâm thế sẵn sàng xả thân vì sự nghiệp lớn.
Đất hai huyện (Quảng Ninh và Lệ Thủy ngày nay) nơi có làng Phúc Tín mà Nguyễn Hữu Cảnh đã cất tiếng khóc chào đời, từ lâu rất nổi tiếng “Nhất Đồng Nai,  nhì Hai huyện”. “Nhất Đồng Nai, nhì Hai huyện” đã trở thành câu ca để chỉ vùng đất trù phú, cánh đồng thẳng cánh cò bay này. Đất Hai huyện như một chàng dũng sĩ, đầu là ngọn núi Yên Mã tựa vào dải Trường Sơn, chân đạp sóng biển Đông, mắt dõi về phương xa; dòng sông Kiến Giang chảy về phá Hạc Hải như một dải lụa xanh vắt qua lưng chàng dũng sĩ ngang tàng đứng suốt bốn mùa chịu đựng lam sơn chướng khí Trường Sơn và gió bão Thái Bình Dương.
Phải chăng những bậc tiền bối của dòng họ Nguyễn Hữu đã sớm nhận ra chân giá trị của vùng “địa linh” này mà họ đã chọn đất này làm nơi định cư và cũng là nơi yên nghỉ cuối cùng của mình, của dòng họ để cho con cháu đời sau tinh hoa phát tiết cả đường văn lẫn võ. Phần mộ của Chiêu Vũ hầu Nguyễn Hữu Dật được chôn cất gần chân núi Yên Mã, cũng như Hào Lương hầu Nguyễn Hữu Hào (anh trai Nguyễn Hữu Cảnh) và Thiện Chánh hầu (con trưởng ông Hào) cùng các phu nhân dòng họ Nguyễn Hữu đều được chôn tại vùng này2. Chắc chắn việc chôn cất này đã được xem xét kỹ theo khoa địa lý cổ ngày xưa hay thuật phong thủy như ta đang gọi ngày nay.
Bên cạnh phong cảnh hữu tình, linh nghiệm về thế đất, mạch sông Quảng Bình còn là nơi xảy ra những giao tranh ác liệt của vùng ranh giới Trịnh - Nguyễn. Những thành lũy ngày xưa vốn là những tuyến phòng thủ quân sự như lũy Thầy, Trường Dục, Định Bắc trường thành, An Náu... từng chặn đứng nhiều đợt tấn công của quân Trịnh, đã phần nào nói lên truyền thống đánh giặc của người dân ở đây.
Tiến sĩ Dương Văn An, quê huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng  Bình đã từng thốt lên trong Ô châu cận lục: “Địa phương ta mặt đất thì non sông tốt đẹp, biển cả thì sóng nước mênh mông, sông Bình Giang trong trẻo, sông Linh Giang bao la, núi Hoành Sơn hùng vĩ, núi Cẩm Ly linh kì, núi Đầu Mâu vượng khí, thật là nơi kì dị của đất trời. Địa hình như thế lẽ nào không chung đúc ra những người hào kiệt, những bậc tài học được ru...?” (8.16).
Ông nội Nguyễn Hữu Cảnh là Triệu Văn hầu, từng làm quan tham chiến dưới triều Lê Anh Tông nhưng vì bất mãn với chúa Trịnh, ông đã cùng chúa Nguyễn theo gia đình vào Đàng Trong. Cha của Nguyễn Hữu Cảnh là Nguyễn Hữu Dật, đã từng giữ chức vụ Tham cơ vụ, được góp bàn ý kiến với triều đình kể cả những đại sự. Với chức giám chiến, Chiêu Vũ hầu Nguyễn Hữu Dật đã cùng quan lại khác phò giúp chúa Nguyễn rất đắc lực. Khi trở thành tướng quốc, trong tay có cả vạn tinh binh nhưng thâm tâm ông chỉ muốn đem mưu lược ra thi thố hơn là phải“Điệu hổ ly sơn”, “Dẫn xà nhập huyệt” giao tranh đầu rơi máu chảy. Những mưu thuật như đã được ông vận dụng rất tài tình. Ông luôn để tâm suy nghĩ thực hành nhiều mưu sách khiến quân Trịnh phải kiêng nể tài ba của viên tướng trẻ tuổi muốn đánh đâu thắng đấy ví bằng Khổng Minh, Bá Ôn (1.164). Tương truyền cứ mỗi lần lâm trận, ông thường suy tư quên ăn bỏ ngủ, cố nghĩ ra mưu lược để cho quân Trịnh sa lưới hoặc rút lui, trừ khi bất thành mới đụng tới binh khí. Suốt quãng đời phò chúa Nguyễn của mình, các trận đánh lớn, Nguyễn Hữu Dật đều được cử tham chiến. Cứ mỗi lần thắng to, ông đều được ban thưởng hậu hỹ. Nhưng khi được lộc chúa, ông đều giành phần để giúp đỡ kẻ nghèo khó và ban thưởng cho quân lính dưới tay của mình theo hoàn cảnh. Ngay cả đối với tù binh, ông cũng rất khoan hòa độ lượng, lấy đức độ của mình cảm hóa lại họ. Lời nhân hậu của ông đã được ghi vào sử sách: “dụng binh là cốt nhân hòa; hễ lòng người hòa thuận thì đánh đâu cũng được. Vậy chỉ nên lấy ơn mà kết hợp, lấy tín mà cảm phục thì người ta vui theo, chém giết làm gì?” (8.224). Do tấm lòng nhân hậu với nhân dân, một đời phò chúa giữ đất Đàng Trong nên ông được người đời rất yêu mến. Sau khi mất, ông được tôn xưng là tướng Bồ Tát và lập đền thờ trang trọng tại xóm Bến, Vạn Xuân, Quảng Bình gọi là đền Tĩnh Quốc Công.
Bên cạnh người bố với tài trận mạc và lòng nhân hậu, Nguyễn Hữu Cảnh cũng đã lớn lên trong vòng tay một người mẹ đảm đang, hết lòng với chồng con và suốt đời lo tu nhân tích đức. Ngày nay còn lưu lại những câu chuyện về bà Nguyễn Thị Thiện, một người rất sùng đạo Phật, ngày rằm mồng một nào bà cũng cùng các con đi chùa Đại Phúc lễ Phật, dạy cho con điều hay lẽ phải ở chốn cửa Thiền, đưa các con vào nề nếp khuôn phép gia đình và xã hội.
Sống trong một gia đình như thế nên anh em Nguyễn Hữu Cảnh ngay từ bé đã được giáo dục chu đáo, lớn lên đều trở thành người có ích. Anh trai của Nguyễn Hữu Cảnh là Nguyễn Hữu Hào (1642-1713) là một người văn võ song toàn. Thiếu thời thông minh khác thường, thích làm thơ, trồng hoa, đánh cờ xem hát... lớn lên cùng cha xông pha trận mạc, do đó rất am tường sách lược dụng binh. Dưới thời chúa Nguyễn Phúc Trăn, Nguyễn Hữu Hào đã làm đến chức Cựu dinh Cai cơ Dinh trấn đóng tại Ái Tử, Quảng Trị. Ông đã là sứ giả của chúa Nguyễn lo việc giao hảo với Chân Lạp. Ông đã đến Bích Đôi (Nam Vang) và lập đoạn trại giữ nghiêm kỷ luật với phương châm “dân vi quý” ở trong quân lính, nên đến nơi đâu ông đều được dân quý mến. Là một nhà quân sự, nhà ngoại giao nhưng ông còn nổi bật trên văn đàn với thi phẩm “Song tinh bất dạ” gồm 2.300 câu, đây là tác phẩm thơ Nôm đầu tiên ở nước ta.
Cũng như cha, anh, Nguyễn Hữu Cảnh với lòng khoan dung nhân ái, với tính tình hòa đồng với quân sĩ đã chinh phục được binh sĩ và nhân dân ở những vùng đóng quân. Trong sự nghiệp ngoại giao, ông cũng tỏ ra khả năng ngoại giao xuất sắc của mình, vừa giữ không khí hòa hiếu với các quốc gia lân cận vừa tạo điều kiện để mở mang bờ cõi về phía Nam.
Ngay từ thủa thiếu thời, Nguyễn Hữu Cảnh đã lớn lên bằng dòng sữa nhân hậu của mẹ, kế thừa tài binh nghiệp và tinh thần hiệp sĩ của cha, anh. Nhân cách sự nghiệp của Nguyễn Hữu Cảnh là sự hòa quyện của truyền thống gia đình và những đức tính của người dân vùng “địa linh nhân kiệt” Quảng Bình. Đấy là một tuổi thơ luôn tuân thủ nề nếp gia phong nhưng hiếu động và tràn trề sinh lực. Một tuổi thơ với niềm đam mê võ thuật, cầu tiến nhưng sòng phẳng và hào hiệp trong những trận đấu dù không cân sức với người hơn tuổi mình. Nguyễn Hữu Cảnh không giấu diếm sự thán phục của mình với những ai dũng cảm và chế nhạo những ai hèn nhát.
Đấy là thời thanh niên vừa thông minh ham học lại cùng thích cha xông pha trận mạc, dũng cảm và am tường binh pháp khi còn trẻ, Nguyễn Hữu Cảnh xứng đáng với công dạy bảo của cha anh và khả năng của “con nhà nòi”. Về binh nghiệp, trong suốt cuộc đời của mình, Nguyễn Hữu Cảnh luôn thể hiện bản lĩnh của một người cầm binh tài giỏi. Ông không chỉ dẹp loạn ở trong nước mà còn dẹp những cuộc gây hấn ở vùng biên giới với nước láng giềng. Có tài dụng binh mà không say chém giết, quân mạnh binh hùng mà vẫn gần gũi dân, đánh giặc xong lại trở về chốn cũ, không tham lam chức tước, không tơ màng đến của ngon vật lạ ở vùng đất mới, đấy là điểm nổi bật của một nhân cách. Đức độ và sống vì nghĩa lớn “đấy là điểm nổi bật của dòng Nguyễn Hữu trong mọi hoàn cảnh, mọi trường hợp và thời điểm”. (8.61).
Nguyễn Hữu Dật sớm nhận thấy con trai mình bản lĩnh và khả năng đường binh nghiệp, nên ông đã khuyến khích, chăm chút cho con trai tập tành võ thuật, truyền lại kinh nghiệm và dìu dắt con xông pha nơi trận mạc để rèn luyện bản lĩnh. Nguyễn Hữu Cảnh đã không phụ lòng cha. Ngay từ thời niên thiếu, nhờ khổ luyện ông đã trở thành người sáng lập một võ phái xứ Đàng Trong gọi là “Bạch Hổ Sơn Quân phái”. Các môn võ mà võ phái này dạy cho binh sĩ đã đem lại nhiều hiệu quả trong những trận giao tranh với chúa Trịnh. Tài năng của Nguyễn Hữu Cảnh đã gặp được một môi trường thuận lợi là gia đình, nơi đầu tiên chăm chút một tài năng.
Vốn thuộc dòng dõi quan lại, đặc biệt có tài về binh nghiệp, nhưng từ khi vào định cư ở Đàng Trong, dòng họ Nguyễn Hữu đã gắn cuộc sống của mình với đất đai nông nghiệp. Có lẽ một bộ phận không nhỏ của dòng họ Nguyễn Hữu đã từng là nông dân thực thụ. Theo Gia phả để lại, cánh đồng Phúc Tín là cánh đồng do chính dòng họ Nguyễn Hữu khai phá. Bởi vậy, phải chăng có một con người nông dân trong Chưởng cơ Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh để khi cầm quân ông đã khuyến khích binh lính học hỏi nghề nông nên quân của ông làm ruộng rất thành thạo. Mỗi khi nhàn rỗi giúp đỡ nhân dân làm ruộng ở những vùng đóng quân làm cho dân chúng an tâm với cuộc sống.
Cánh đồng Phúc Tín nằm trong vùng đồng bằng trù phú hai huyện Phong Lộc và Lệ Thủy ngày trước, một vùng đất bát ngát và thẳng cánh cò bay. Về mặt cảnh quan và địa hình rất gần giống với đất Nam Bộ. Câu ca xưa “Nhất Đồng Nai, nhì Hai Huyện” là một so sánh dựa trên sự tương đồng nhất định giữa hai vùng đất này. Đất Hai Huyện là vùng chiêm trũng, ruộng sâu, sình lầy, kênh rạch chằng chịt. “Tháng bảy nước nhảy qua bờ” là mùa mưa lụt, xóm làng mấp mé nước nhìn không khác gì giồng đất ở Nam Bộ. Sông nước mênh mông việc đi lại chủ yếu là ghe thuyền, từ rất lâu người dân vùng này đã có thói quen đi lại trên sông nước với một kỹ thuật đóng thuyền tinh xảo. Trẻ con từ rất nhỏ đã biết chèo thuyền, đặc biệt là chèo lái rất thành thạo. Đi làm ruộng bằng thuyền thuyền, thu hoạch cũng dùng thuyền để chở, ở những cánh đồng nước sâu người ta bó lúa ngay ở trên thuyền. Họ dùng thuyền để đánh cá bắt tôm, đi lại thăm hỏi nhau, dùng thuyền lên vùng bến Bến Tiến, Thác Tre (còn gọi là Thác Ro - nơi có phần mộ Nguyễn Hữu Cảnh) để đẳn gỗ làm nhà, kỹ thuật chèo chống, luồn lách vượt thác suối sông đã trở thành kỹ xảo. Những đêm trăng thanh gió mát, trai gái ngồi thuyền thả trôi sông hò đối đáp, ngắm trăng uống rượu... là một thú vui tao nhã. Rồi đến khi nhắm mắt xuôi tay, những con thuyền được trang điểm rồng phượng lại chở người quá cố ngược sông lên yên nghỉ ngàn đời trên vùng núi Yên Mã. Không phải ngẫu nhiên mà hội đua thuyền trên sông nước có từ lâu đời vẫn còn tồn tại đến bây giờ như một ngày hội của cư dân vùng Hai Huyện.
Cũng trên bến dưới thuyền, bán buôn sầm uất với hệ thống kênh rạch chằng chịt đất đai thì“chưa mưa đã lụt, chưa nắng đã khô”, nên sống ở đây con người phải cực kỳ tinh nhạy để hòa đồng với thiên nhiên, bắt thiên nhiên giúp ích con người. Chính trong thời kỳ được chúa Nguyễn Phúc Chu cử làm Cai Cơ, Nguyễn Hữu Cảnh đã thực thi kế sách “dẫn thủy nhập điền”, làm lợi cho bà con nông dân địa phương. Trên cánh đồng Phúc Tín và Thủ Thư có con sông chảy từ lèn Áng Sơn về phá Hạc Hải, ông đã cho đào những nhóm hói từ đập Thâm Mưng thông với con sông trên như hói Phước Lương, hói Choọc. Ngoài ra, còn có hệ thống hói đào từ phá Hạc Hải đến vùng Vạn Ninh như hói Bến Cát, Bến Đa, Bến Bốm, Bến Tể... Ngoài lợi ích tưới tiêu, các hói này còn dùng để vận chuyển lương thực phục vụ cho dân sinh và quân đội lúc chiến tranh.
Có thể nói, sự nghiệp khai hoang mở cõi vĩ đại của Nguyễn Hữu Cảnh ở vùng Nam Bộ sau này đã được bắt đầu từ việc khai phá các cánh đồng ở đây. Việc đào kênh thông giữa sông Tiền và sông Hậu cũng đã bắt nguồn từ kinh nghiệm đào các con hói từ phá Hạc Hải lên vùng Vạn Ninh lúc bấy giờ. Những gì mà Nguyễn Hữu Cảnh đã làm cho vùng đất Nam Bộ say này đều được thử nghiệm trên quê hương Hai Huyện mà ông đã sinh ra, lớn lên và hết lòng yêu mến. Điều này khẳng định thêm rằng những gì ông đã làm cho vùng Nam Bộ ngoài lý do vì “nghiệp lớn”, phải chăng còn là một cách để ông tưởng nhớ về cố hương, nơi mình đã lớn lên và gắn bó, bằng những việc làm thiết thực.
Khi được giao vào kinh lược xứ Đồng Nai, nơi đất rộng người thưa, ông đã nghĩ ngay đến việc đưa người ngũ Quảng mà chủ yếu là người ở Quảng Bình vào đây khai phá. Việc đặt tên các vùng đất mới đều có chữ Bình và chữ Tân là những địa danh ở Quảng Bình “thật không còn ý nghĩa nào hơn để tỏ lòng trung hậu của vị tướng quốc thiết tha với vùng đất quê hương thân yêu” (8.97).
Công lao của Nguyễn Hữu Cảnh trong việc mở mang bờ cõi góp phần định hình thể quốc gia Việt Nam, có ý nghĩa vô cùng to lớn trong những thành công trong sự nghiệp của Nguyễn Hữu Cảnh có một phần ảnh hưởng không nhỏ của gia đình và quê hương.

                                                                         
 PGS.TS. NGÔ MINH OANH
Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh
                                                                           ThS. MINH HẰNG
Trường Đại học Luật, Thành phố Hồ Chí Minh

 
Tài liệu tham khảo:
1. Dương Văn An (1961), Ô châu cận lục, Văn hóa Á châu, Sài Gòn.
2. Quốc sử quán triều Nguyễn (1995), Đại Nam liệt truyện tiền biên. Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.
3. Trịnh Hoài Đức (1972), Gia Định thành thông chí, Văn hóa Tùng thư số 50, 51, Sài Gòn.
4. Trần Văn Giàu (1987), Địa chí văn hóa TP. Hồ Chí Minh, Tập 1, Nxb TP. Hồ Chí Minh.
5. Sơn Nam (1997), Lịch sử khẩn hoang miền Nam, Nxb Trẻ.
6. Sơn Nam (1997), Bến Nghé xưa, Nxb Trẻ.
7. Sơn Nam (1997), Đất Gia Định xưa, Nxb Trẻ.
 
8. Như Hiên Nguyễn Ngọc Hiền (1997), Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh với công cuộc khai sáng miền Nam nước Việt cuối thế kỷ XVII, Nxb Văn học, Hà Nội.
9. Nguyễn Hữu Cảnh - Chân dung người mở cõi (1997), Nxb Mũi Cà Mau.
10. Quốc sử quán triều Nguyễn (1994), Minh Mệnh chính yếu, Tập 1, 2, 3, Nxb Thuận Hóa, Huế.
11. Phương đình Nguyễn Văn Siêu (1997), Đại Việt địa dư toàn biên, Viện Sử học - Nxb Văn hóa, Hà Nội.
 
 
1 Nay thuộc vùng đất hai huyện Quảng Ninh và Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình.
2 Vùng đất này nay thuộc xã Trường Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

  • Đang truy cập1
  • Hôm nay272
  • Tháng hiện tại2,261
  • Tổng lượt truy cập124,320
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây