DANH TƯỚNG HOÀNG KẾ VIÊM

Thứ bảy - 17/03/2018 09:41
Lăng Mộ Hoàng Kế Viêm
Lăng Mộ Hoàng Kế Viêm
DANH TƯỚNG HOÀNG KẾ VIÊM - THÂN THẾ VÀ SỰ NGHIỆP

Quảng Bình là vùng đất có bề dày lịch sử lâu đời, nơi tiềm chứa nhiều giá trị lịch sử, văn hóa vật chất và tinh thần độc đáo. Trong suốt chiều dài lịch sử, trên vùng đất Quảng Bình địa linh nhân kiệt này đã sản sinh ra nhiều bậc danh nhân, danh tướng, anh hùng hào kiệt tiếng tăm lẫy lừng với những chiến công hiển hách đã làm rạng danh cho quê hương, đất nước; mãi mãi là niềm tự hào của dân tộc và của bao thế hệ cộng đồng cư dân người Quảng Bình. Chính môi trường khắc nghiệt, không gian văn hóa đa dạng cùng với những biến động của lịch sử đã đào luyện, hun đúc và sản sinh ra các thế hệ danh nhân Quảng Bình với những giá trị đặc sắc, những con người vượt lên số phận để gánh vác những trọng trách của cộng đồng trong cuộc chiến để tồn tại và phát triển. Với những chiến công xuất sắc trong công cuộc đánh giặc, giữ nước, Hoàng Kế Viêm đã trở thành một danh nhân quân sự tiêu biểu và đóng vai trò to lớn trong trong phong trào đấu tranh vũ trang của nhân dân ta nửa cuối thế kỉ XIX.                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                           Hoàng Kế Viêm còn có tên là Hoàng Tá Viêm, tự Nhật Trường, hiệu Tùng Viên, sinh năm 1820, quê làng Văn La, tổng Văn Đại, phủ Quảng Ninh (nay thuộc huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình). Thân phụ của ông là Hoàng Kim Xán, làm Bố chính tỉnh Khánh Hòa. Tuổi thơ dịu dàng êm ả đã không dài với ông vì năm 13 tuổi Hoàng Kế Viêm đã mồ côi cha. Sau khi cha mất, Hoàng Kế Viêm về sống và học tập ở quê hương. Văn La là một trong tám làng quê văn vật nổi tiếng của tỉnh Quảng Bình đã ảnh hưởng không nhỏ tới tư tưởng và nhân cách của Hoàng Kế Viêm. Những năm tháng sống ở quê nhà giúp Hoàng Kế Viêm thấu hiểu và cảm thông sâu sắc với cuộc sống của nhân dân lao động. Những truyền thống tốt đẹp của gia đình và quê hương đã tác động, hun đúc nên nhân cách cao đẹp của Hoàng Kế Viêm. Chính cuộc đời và sự nghiệp của ông cũng đã góp phần làm vẻ vang thêm truyền thống của quê hương, dân tộc. Cho dù cuộc kháng chiến của nhân dân ta ở thế kỉ XIX không thành công nhưng những trang sử hào hùng nhất của dân tộc giai đoạn này đều gắn liền với tên tuổi của Hoàng Kế Viêm.
\
Xuất thân trong gia đình nhà nho, Hoàng Kế Viêm được học hành chu đáo. Năm 1843, ông thi đỗ cử nhân và được bổ chức Tư Vụ, hàm Quang Lộc tự khanh. Hoàng Kế Viêm nổi tiếng thông minh, hiếu hạnh nên ông đã lọt vào tầm ngắm của Hoàng tộc trong việc kén chồng cho Công chúa. Năm 1844, Hoàng Kế Viêm được vua Thiệu Trị chọn làm Phò mã cho Công chúa Hương La. Mối lương duyên này là sợi dây thứ hai ràng buộc Hoàng Kế Viêm với triều Nguyễn bên cạnh nghĩa vụ của nhà nho.
Sau khi đỗ đạt rồi được bổ làm quan trải qua tám triều vua (từ triều Minh Mạng đến triều Đồng Khánh), Hoàng Kế Viêm đã giữ nhiều chức quan, cai quản nhiều địa phương với các công việc khác nhau. Năm 1846, thời vua Thiệu Trị, Hoàng Kế Viêm được phong chức Lang trung bộ Lại. Dưới thời vua Tự Đức, năm 1852, ông được sung chức Án sát tỉnh Ninh Bình, rồi Bố chính tỉnh Thanh Hóa (1854), Bố chính kiêm Tuần phủ Hưng Yên (1859), Tổng đốc An Tĩnh (1863).
Trong suốt quãng thời gian phò vua trị nước, Hoàng Kế Viêm đã có nhiều công lao trong việc mở mang kinh tế, phát triển giao thông, thủy lợi, giữ vững trật tự xã hội. Dù xuất thân con nhà Thượng thư triều Gia Long, thân làm Phò mã của vua Minh Mạng, nhưng Hoàng Kế Viêm là một vị quan suốt đời sống thanh liêm, tận tụy với nhân dân. Mặt khác, với Hoàng Kế Viêm dù là một nhà nho chân chính song ông không chịu ngu trung mà luôn biết đặt lợi ích của muôn dân trăm họ lên trên hết, đó là lý do khiến Hoàng Kế Viêm trở thành ''Người phản biện của xã hội'' lúc bấy giờ.
Trong hai thập kỉ 40 và 50 của thế kỉ XIX, khi nguy cơ thực dân Pháp xúc tiến việc xâm lược Việt Nam hiện hữu; vì thiếu nhân tài, triều đình Nguyễn đã buộc phải bỏ lệnh cấm các Phò mã tham chính. Một năm sau khi công chúa Hương La qua đời, Hoàng Kế Viêm được bổ dụng vào chức quan nhỏ trong triều với hàm Quang Lộc tự khanh. Từ năm 1845 về sau, đặc biệt sau khi vua Thiệu Trị mất, ngày 4 tháng 11 năm 1847, Tự Đức lên ngôi, cuộc đời Hoàng Kế Viêm thăng trầm, chìm nổi gắn liền triều Nguyễn và vận mệnh đất nước trước nanh vuốt của chủ nghĩa thực dân Pháp. Tài năng của Hoàng Kế Viêm đã được thể hiện song cũng bị triều đình kìm chế không ít. Khởi đầu sự nghiệp từ một quan văn, Hoàng Kế Viêm cũng đã thể hiện được tài năng trên lĩnh vực chính trị và quân sự. Tuy nhiên, với những đóng góp to lớn cho lịch sử dân tộc, Hoàng Kế Viêm xứng đáng được suy tôn là một danh thần văn võ song toàn.
Lúc bấy giờ tình hình biên cương phía Bắc rất phức tạp với nhiều lực lượng quân phỉ từ bên kia biên giới tràn sang. Nhất là vào những năm 60 của thế kỉ XIX, trong khi thực dân Pháp đang mở rộng đánh chiếm các tỉnh Nam Kỳ thì ở Bắc Kỳ, tình hình ngày càng phức tạp bởi sự có mặt của các toán phỉ quấy nhiễu ở nhiều địa phương và tàn quân “Thái Bình Thiên Quốc” từ Trung Quốc tràn sang. Các lực lượng này thường xuyên quấy phá, cướp bóc, tranh giành địa bàn hoạt động khiến đời sống nhân dân vô cùng khổ cực. Dư đảng của “Thái Bình Thiên Quốc” là Ngô Côn chạy sang các tỉnh phía Bắc Việt Nam xin hàng. Nhưng về sau dư đảng đem quân đi cướp phá khắp nơi. Triều đình phải nhờ quân nhà Thanh phối hợp để tiễu trừ, Ngô Côn bị giết nhưng dư đảng của y chia thành 3 toán, với hiệu cờ khác nhau: Hoàng Sùng Anh (hiệu Cờ Vàng); Bàn Văn Nhị, Lương Văn Lợi (hiệu Cờ Trắng), Lưu Vĩnh Phúc (hiệu Cờ Đen). Năm 1870, triều đình Huế phong Hoàng Kế Viêm làm Thống đốc Quân vụ đại thần bốn tỉnh Lạng - Bình - Ninh - Thái, cùng với Tán tương Quân vụ Tôn Thất Thuyết ra Bắc lo việc đánh dẹp.
Suốt 4 năm cầm quân tiễu phỉ (1870-1873), ông đã chỉ huy quân sĩ hành quân qua nhiều địa phương, đánh thắng nhiều trận lớn, lần lượt tiễu trừ các băng đảng Cờ Vàng, Cờ Trắng, Cờ Đen ở Sơn Tây, Hưng Hóa, Tuyên Quang, Thái Nguyên… góp phần bảo vệ cuộc sống bình yên cho nhân dân. Mặc dầu chúng có phối hợp với nhau, nhưng trong ba “giặc cờ”, duy chỉ có Cờ Đen của Lưu Vĩnh Phúc là mạnh, quân vừa đông vừa tinh nhuệ hơn, quân phong quân kỷ nề nếp hơn; bản thân Lưu Vĩnh Phúc cũng là một người có bản lĩnh, tôn trọng nhân dân và nhân nghĩa hơn. Phẩm chất cao đẹp cùng với lòng khoan dung độ lượng của mình mà Hoàng Kế Viêm đã cảm hóa và thu phục được thủ lĩnh quân Cờ Đen của Lưu Vĩnh Phúc, phong quan tước cho y, cho phép y trấn giữ vùng Lào Cai thu thuế nộp cho triều đình, biến quân Cờ Đen thành lực lượng trợ thủ của triều đình đánh dẹp hai loại Cờ Vàng và Cờ Trắng. Với công lao to lớn trong việc đánh tan được quân Cờ Vàng, Cờ Trắng và thu phục được quân Cờ Đen, Hoàng Kế Viêm đã được triều đình phong Đại học sĩ, giữ chức Thống đốc Tam Tuyên rồi đến Tiết chế Quân vụ Bắc Kỳ.
Đến tháng 10 năm 1871, Hoàng Kế Viêm dâng sớ xin ban hành 9 điều cần phải làm ở các tỉnh biên giới như sau:
1. Củng cố thành trì các tỉnh: đào thêm hào, đắp thêm lũy, trồng nhiều lớp tre gai chung quanh.
2. Chưa nên áp dụng thổ quan đối với các châu huyện vùng biên giới. Để nguyên các chức tri huyện, tri châu người Kinh nắm giữ, nhưng phải lựa chọn những thổ ty có năng lực giúp sức làm huyện úy, châu úy, vài ba năm tập sự sẽ cho thay thế.
3. Cho lập tổng đoàn, chọn những người khỏe mạnh, trong một tổng hoặc hợp hai tổng thành một đoàn, cử đoàn trưởng chỉ huy. Khi hữu sự, họ sẽ hỗ trợ, ứng cứu cho nhau. Định lệ thưởng phạt nghiêm minh cho những đoàn có công hay có tội.
4. Dân biên giới sống rải rác, phân tán, không thành lực lượng hỗ trợ cho quân triều đình. Nay xin tập trung dân chúng ở thành làng xóm vào những nơi địa hình tốt, đắp lũy đất, trong tre gai chung quanh để chống giữ. Ở nơi sản xuất như đồng ruộng nương rẫy, chỉ dựng nhà tạm, xong vụ gặt, chuyển vào căn cứ chính. Những làng xóm mới đều cho lập Đoàn Dũng để giữ gìn an ninh.
5. Đặt các đồn biên phòng ở các nơi xung yếu. Đường mòn nào xét thấy không cần, cho lấp lại. Lấy người địa phương làm quân canh thường trực của đồn. Ai đi qua biên phòng phải có giấy thông hành. Thương nhân Trung Quốc đi qua biên phòng phải nộp thuế 30 đồng tiền kẽm đến 1 tiền. Số tiền thu được cho quân canh đồn hưởng.
6. Tổ chức hai cơ lính chung cho các tỉnh biên giới. Ngoài hai cơ đó ra, còn cho những người địa phương lập thành đội ngũ, chọn đặt người quản xuất. Mỗi tỉnh mộ khoảng 300-500 người. Số lính mộ này được hưởng lương tháng và đóng ở tỉnh, do tỉnh điều động.
7. Các tỉnh biên giới phải tự túc lương thực, không phải chuyển gạo từ đồng bằng lên thượng du nữa. Muốn thế, sau mỗi vụ gặt, các tỉnh phải lo thu mua thóc gạo của dân để chứa vào kho.
8. Phải có chính sách hậu đãi với quan lại người trung châu được cử đến làm việc ở biên giới.
9. Phải quản lý chặt việc đi lại, hoạt động của người Trung Quốc.
Bản sớ tâu vua xin ban 9 điều cần làm nơi biên giới thể hiện được tầm nhìn chiến lược cũng như tư tưởng lấy dân làm gốc của ông. Bản tấu và việc làm của Hoàng Kế Viêm đa phần đều có tính thiết thực, khả thi và mang lại hiệu quả, nhất là củng cố quân đội vững mạnh, dẹp yên loạn lạc ở phía Bắc, giúp cuộc sống dân tình nơi biên giới được ổn định.
Trong thời kỳ chống thực dân Pháp, Thống đốc Trấn Bắc Đại tướng quân Hoàng Kế Viêm - danh tướng từng đoạt vị trí rất cao dưới thời phong kiến, một trong những người lập công mở đầu kháng chiến chống thực dân Pháp. Hoàng Kế Viêm được biết đến là một trọng thần đức độ, một danh tướng tài năng, giàu lòng yêu nước, kiên quyết chiến đấu chống giặc ngoại xâm vì độc lập dân tộc. Ông là Phò mã đương triều nhưng chẳng phải vì thế mà con đường tiến thân của ông thênh thang như bao người khác. Sau khi được bổ làm Lang trung bộ Lại, ông lần lượt được giao đảm trách, cũng là dịp thử sức qua những chức quan đầu tỉnh ở những vùng khó khăn nhất như Án sát tỉnh Ninh Bình, Bố chính tỉnh Thanh Hóa, Bố chính kiêm Tuần vũ tỉnh Hưng Yên, Tổng đốc An - Tĩnh, thăng lên Thống đốc Quân vụ 4 tỉnh Lạng - Bình - Ninh - Thái, được phong Đại học sĩ, thống lãnh quân vụ Tam Tuyên rồi Tiết chế Quân vụ miền Bắc, sung Thượng thư bộ Công, rồi lại phong Đông các Đại học sĩ, thăng Thái tử Thiếu bảo, sung đại thần viện Cơ mật.  Với tài năng vượt trội về mặt quân sự, những kiến nghị của Hoàng Kế Viêm chủ yếu tập trung vào việc nhà binh, đặc biệt là trong khoảng thời gian ông giữ chức Thống đốc Quân vụ.
Công lao lẫy lừng nhất của danh nhân Hoàng Kế Viêm chính là những trận chiến với quân Pháp trong buổi đầu chúng kéo quân ra xâm lược miền Bắc với hai trận thắng ở Ô Cầu Giấy, giết chết tướng F.Garnier (1873) và Henri Rivière (1883). Cùng với Thống tướng Lê Sĩ mở đầu sự nghiệp kháng Pháp, Hoàng Kế Viêm chính là vị danh tướng người Quảng Bình ghi công đầu, thể hiện tinh thần và ý chí quyết tâm chống thực dân Pháp đến cùng của nhân dân Việt Nam.
Tháng 11 năm 1873, thực dân Pháp tấn công thành Hà Nội, mở đầu công cuộc chinh phục Bắc Kỳ lần thứ nhất. Dưới sự chỉ huy của Nguyễn Tri Phương, quân triều đình đã kiên cường chiến đấu, nhưng cuối cùng Nguyễn Tri Phương hi sinh và thành Hà Nội thất thủ. Một bộ phận lực lượng quân triều đình bí mật rút lên Sơn Tây, gia nhập quân của Thống đốc Hoàng Kế Viêm. Sau khi chiếm được thành Hà Nội, giặc Pháp nhanh chóng mở rộng đánh chiếm các tỉnh Hưng Yên, Hải Dương, Ninh Bình, Nam Định… Trước hành động xâm lược của thực dân Pháp, mặc dù chưa có lệnh của triều đình nhưng Hoàng Kế Viêm và Tôn Thất Thuyết đã chủ động kéo quân từ Sơn Tây về phối hợp với quân của Trương Quang Đản đóng ở Bắc Ninh để tấn công Hà Nội. Đi theo cánh quân của Hoàng Kế Viêm lúc đó còn có đội quân Cờ Đen của Lưu Vĩnh Phúc. Vòng vây của quân ta ngày càng khép chặt xung quanh Hà Nội, khiến cho Garnier phải vội vã kéo quân từ Nam Định về.
Ngày 21 tháng 12 năm 1873, Hoàng Kế Viêm phái Lưu Vĩnh Phúc kéo quân sát thành Hà Nội để khiêu khích, nhử địch. Trong lúc đang hội đàm với phái đoàn của triều Nguyễn, Francis Garnier đã dừng cuộc họp để đem quân tiến ra ngoài thành, kéo sang phủ Hoài Đức định tiêu diệt quân Hoàng Kế Viêm. Khi đến Ô Cầu Giấy, quân Pháp bị rơi vào chỗ mai phục, quân của Hoàng Kế Viêm xông lên đánh giáp lá cà, giết chết Garnier tại chỗ, số còn lại tháo chạy.
Chiến thắng Ô Cầu Giấy của Hoàng Kế Viêm và cái chết của Garnier khiến quân Pháp ở Bắc Kỳ hoảng sợ phải rút quân co cụm về Hà Nội. Đứng trước chiến công vẻ vang như vậy, đáng lẽ triều đình Huế phải thừa thắng xông lên quét sạch quân xâm lược, giải phóng Bắc Kỳ mà thắng lợi đã nắm chắc trong tầm tay, nhưng triều đình Huế lại ra lệnh cho Hoàng Kế Viêm triệt binh lên Sơn Tây và điều động Lưu Vĩnh Phúc kéo quân lên mạn ngược. Thực dân Pháp biết rằng chưa thể chiếm được Bắc Kỳ nên “xuống thang” ký với triều đình Huế hiệp ước Giáp Tuất (15/3/1874) gồm 22 điều khoản. Với chiến công đó, Hoàng Kế Viêm cũng được triều đình thăng chức Hiệp biện Đại học sĩ, tấn phong là Địch Trung tử, vẫn sung làm Tam Tuyên Quân thứ Thống đốc Đại thần.
Tuy bị bắt buộc phải chấp hành lệnh vua, nhưng khi rút về Tam Tuyên, Hoàng Kế Viêm vẫn tiếp tục xây dựng công cuộc chống Pháp bảo vệ độc lập của Tổ quốc. Ông ra sức chuẩn bị cho một cuộc kháng chiến lâu dài, vừa chống thực dân Pháp xâm lược vừa chống sự can thiệp của Trung Quốc.
 Hoàng Kế Viêm đã đề xuất với triều đình lập Nha sơn phòng Hưng Hóa, lấy đồn Thục Luyện (huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ ngày nay) làm trụ sở Nha Sơn phòng. Mặt khác, Hoàng Kế Viêm dâng sớ về kinh xin cho Nguyễn Mậu Kiến - một chí sĩ yêu nước và tài năng về cộng tác với mình ở Sơn phòng Hưng Hóa lo liệu việc luyện tập binh mã, khai khẩn ruộng nương, tích trữ lương thảo làm kế sách kháng chiến lâu dài. Được sự cộng tác của Nguyễn Mậu Kiến và các đồng sự, Hoàng Kế Viêm đã xây dựng Sơn phòng Hưng Hóa thành một trung tâm kháng chiến mạnh ở Bắc Kỳ. Những việc làm của Hoàng Kế Viêm đã chứng tỏ ông là một người tài giỏi, biết nhìn xa trông rộng. Những con người được ông lựa chọn này về sau trở thành những lãnh tụ xuất sắc của phong trào chống Pháp ở Bắc Kỳ. Hoàng Kế Viêm thường rất coi trọng lực lượng hậu bị bên cạnh quân đội chính quy của triều đình, đó là việc thành lập các Đoàn Dũng ở các tỉnh. Bên cạnh đó, ông lại tích cực chăm lo đến khối đoàn kết toàn dân, cho đó là sức mạnh trong cuộc chiến đấu lâu dài.
Tháng 6 năm 1879, hai vạn quân của Lý Dương Tài (Trung Quốc) tràn sang đánh chiếm Lạng Sơn với mưu đồ cát cứ, xưng vương. Chúng cấu kết với thực dân Pháp đánh sang Bắc Ninh rồi chiếm đóng để kiềm chế quân Hoàng Kế Viêm ở lại trung du, cho chúng rãnh tay làm chủ thượng du. Thực dân Pháp chấp nhận kế hoạch của Lý Dương Tài, nếu sự hợp tác này thành công thì Pháp sẽ thương lượng với Lý Dương Tài xác lập nền đô hộ của Pháp ở Bắc Kỳ, còn nếu Tự Đức muốn chống Trung Quốc nhất định thế nào Tự Đức cũng phải nhờ Pháp giúp đỡ, lúc đó Pháp sẽ nhân cơ hội đòi Tự Đức phải nhìn nhận sự bảo hộ của chúng trên toàn cõi Việt Nam. Quân Pháp ở Bắc Ninh sợ không địch nổi quân Lưu Vĩnh Phúc phải rút về Hà Nội. Lý Dương Tài thấy sự phối hợp với quân Pháp không thành, không dám vào Lạng Sơn mà chuyển qua cướp phá Thái Nguyên, Bắc Cạn… Đến tháng 7 năm 1879, bọn Lý Dương Tài đã bị quân của Hoàng Kế Viêm đánh cho tan tác. Biên cương và vùng trung du được giữ vững.
Năm 1882, thực dân Pháp đánh thành Hà Nội, mở đầu cuộc đánh chiếm Bắc Kỳ lần thứ hai. Tháng 2 năm 1882, Thống đốc Nam Kỳ phái trung tá Henri Rivière đem quân ra Bắc, đổ bộ lên Hà Nội, đóng quân ở Đồn Thủy, nâng quân số của Pháp lên 600 tên. Đó là con số gấp 5 lần theo quy định của hòa ước Giáp Tuất (1874). Trước nguy cơ Hà Nội bị uy hiếp trực diện, Hoàng Kế Viêm phối hợp với Hoàng Diệu, Tổng đốc Hà Nội, tâu lên vua Tự Đức cùng triều đình Huế xin được đem quân thứ Tam Tuyên về tập trung ở Trung Châu để đối phó với giặc. Lúc này, Hoàng Kế Viêm không đóng quân ở các tỉnh thành cố định mà thường di trú theo tình hình.
Ngày 25 tháng 4 năm 1882, Rivière gửi tối hậu thư cho Hoàng Diệu cũng một luận điệu như F.Garnier 10 năm về trước đã gửi tối hậu thư cho Nguyễn Tri Phương, đòi Hoàng Diệu phải nộp thành và trân tráo hơn đòi Hoàng Diệu cùng phò tá phải đích thân đến trình diện y ở hành dinh của y đúng giờ quy định là 8 giờ sáng. Tuy nhiên, Hoàng Diệu không thèm trả lời và sẵn sàng tư thế chiến đấu. Các chiến hạm của Pháp nhất loạt nổ súng vào thành Hà Nội, quân Pháp tổng tấn công vào thành. Hà Nội thất thủ. Hoàng Diệu thắt cổ treo mình tuẫn tiết theo thành. Cái chết của Hoàng Diệu đã thúc dục sĩ khí nhân dân Bắc Kỳ xông lên diệt giặc. Cùng lúc quân đội triều đình dưới quyền chỉ huy của Hoàng Kế Viêm vẫn còn nguyên vẹn. Đó là cơ hội cho nhà vua phát động một cuộc kháng chiến chống giặc cứu nước. Nhưng không, vua Tự Đức chỉ phái người ra Hà Nội thương lượng với Pháp đồng thời lệnh cho Hoàng Kế Viêm lui quân về phủ Hoài Đức, giải tán các Đoàn Dũng xuất hiện ở các tỉnh Sơn Tây, Nam Định, Bắc Ninh. Trước việc làm của triều đình, Hoàng Kế Viêm và Nguyễn Chính dâng sớ lên Tự Đức, vạch trần âm mưu xảo quyệt của giặc và phê phán chủ trương giải binh thương thuyết của triều đình. Qua những việc làm đó cho thấy, Hoàng Kế Viêm là một con người bộc trực, ngay thẳng, dám đấu tranh vì chính nghĩa và độc lập tự do của dân tộc.
Dù vua Tự Đức ra lệnh ngừng chiến nhưng Hoàng Kế Viêm không những không thi hành lệnh của triều đình mà còn khẳng khái chỉ trích Tự Đức và bị Tự Đức xuống dụ khép ông vào tội “trái mệnh vua thật, không thể chối cãi được”. Tuy nhiên, trước những lời buộc tội cũng như thỉnh cầu lui binh của Tự Đức, Hoàng Kế Viêm vẫn cương quyết đóng quân tại Sơn Tây để lợi dụng địa hình chuẩn bị chống Pháp. Nhân dân tham gia ngăn sông đóng cọc, đắp rào cản khắp các nẻo đường. Tại Nam Định, Tổng đốc Võ Trọng Bình cũng không chịu ngồi yên chờ chết, ráo riết tiến hành phòng thủ, khiến H. Rivière rất lo ngại bởi con đường vào Huế đã bị khống chế.
Ngày 24 tháng 3 năm 1883, H. Rivière đưa quân đánh chiếm Nam Định. Ở Cầu Giấy, quân Hoàng Kế Viêm án ngự dọc bờ sông Tô, cánh quân Trương Quang Đản thì áp sát sông Hồng. Trong lúc Rivière đang đánh Nam Định, hai cánh quân Hoàng Kế Viêm ở Sơn Tây và Trương Quang Đản ở Bắc Ninh kéo về vây quanh nội thành Hà Nội. Rạng sáng 26 tháng 3 năm 1883, Hoàng Kế Viêm cho 4.000 quân từ phủ Hoài Đức tiến về Hà Nội, tấn công một số căn cứ giặc ở kho thóc trong thành, quân Trương Quang Đản chặn đánh dọc sông Hồng, pháo kích căn cứ Đồn Thủy. Hai chiếc thuyền Pháp tuần tiểu trên sông Hồng vừa đến khu vực làng Hạ Trì thì bị quân Hoàng Kế Viêm nổ súng chặn đánh. Quân của Hoàng Kế Viêm đem cả voi đi tuần trong lòng Hà Nội, tấn công cứ điểm Hàm Long, buộc H. Rivière phải xin lệnh Thống đốc ở Sài Gòn dẫn quân ra phủ Hoài Đức.
Để tiến công quân Pháp, Hoàng Kế Viêm đưa quân áp sát Hà Nội, tổ chức một đội quân, giao Lưu Vĩnh Phúc chỉ huy đột nhập vào thành và cho dán yết thị thách thức Rivière ra vùng Hoài Đức quyết đấu; đồng thời khẩn trương bố trí sẵn trận địa ứng chiến ở Cầu Giấy. Ông chia lực lượng thành ba cánh, lập trận địa theo hình vòng cung từ làng Dịch Vọng Tiền (Tiền Thôn) sang Dịch Vọng Trung (Trung Thôn) đến Hạ Yên Quyết, sẵn sàng đón đánh quân Pháp. Rạng sáng ngày 19 tháng 5 năm 1883, Rivière chỉ huy 500 quân Pháp, có đại bác yểm trợ, hành quân theo đường Cầu Giấy (Hà Nội) ra Hoài Đức. Chờ cho quân Pháp nằm gọn vào trận địa phục kích, quân triều đình bất ngờ xông ra chặn đánh quyết liệt. Sau hai giờ chiến đấu, quân triều đình đã tiêu diệt gần 100 sĩ quan và binh lính Pháp, trong đó có Tổng chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Bắc Kỳ là đại tá Rivière.
Chiến thắng Ô Cầu Giấy lần thứ hai với cái chết của đại tá Rivière đã làm nức lòng nhân dân cả nước, khơi dậy một khí thế, cao trào đánh Pháp trên khắp cả nước ta. Trận Cầu Giấy ngày 19 tháng 5 năm 1883 đã làm cho bè lũ thực dân ở Bắc Kỳ lúc bấy giờ rất hoang mang và lo sợ. Trong bối cảnh đó, chỉ một cuộc tấn công nhỏ của quân và dân ta cũng có thể giải phóng được Hà Nội. Như vậy, hai chiến thắng Ô Cầu Giấy cách nhau 10 năm (1873-1883), hai viên tổng chỉ huy quân Pháp ở Bắc Kỳ đều bị giết chết ngay trên Ô Cầu Giấy. Người chỉ huy lập nên hai chiến thắng đó không ai khác chính là Hoàng Kế Viêm. Giống như 10 năm trước, khi F.Garnier bị chém đầu, cũng ở trận Cầu Giấy này, quân Pháp cũng hoang mang và dao động đến cực độ, đáng lẽ triều đình và vua Tự Đức phải thừa thắng xông lên quét sạch quân thù ra khỏi đất Bắc, nhưng ngược lại Tự Đức vẫn tiếp tục nuôi ảo tưởng thương lượng, nghị hòa cũng như hi vọng về sự giúp đỡ của nhà Thanh.
Tháng 7 năm 1883, vua Tự Đức qua đời. Dục Đức lên ngôi được ba ngày thì bị tống giam đến chết. Hiệp Hòa lên thay làm cho nội bộ triều đình Huế tranh giành ngôi vua nên hết sức rối ren. Ba đời vua nối tiếp nhau trong vòng 4 tháng. Nhân cơ hội đó, ngày 15 tháng 8 năm 1883, tướng Pháp là Bu-ê (Bouet) được cử làm Tổng chỉ huy quân đội Bắc Kỳ, đem gần 2.000 quân chia làm ba đạo có nhiều đại bác và tàu chiến yểm trợ đánh vào phòng tuyến bảo vệ con đường lên Sơn Tây của ta. Tuy nhiên, suốt hai ngày 15 và 16 tháng 8 năm 1883, cả ba đạo quân của chúng đều bị quân ta chặn đánh quyết liệt đến nỗi chúng không thể liên lạc được với nhau, buộc chúng phải kéo nhau chạy về Hà Nội.
Đầu tháng 9 năm 1883, Bu-ê lại đích thân chỉ huy một đạo quân khác gồm 200 tên đánh lên một căn cứ trên đường đi Sơn Tây. Nhưng căn cứ này được Hoàng Kế Viêm bố trí hết sức chặt chẽ. Bu-ê bị chặn đánh khắp nơi, phải kéo quân chạy về Hà Nội. Ngày 1 tháng 9 năm 1883, Bu-ê lại đích thân chỉ huy một đạo quân khác gồm hai tiểu đoàn thủy quân lục chiến, hai đại đội lính ngụy, một đội sơn pháo kéo lên chiếm đánh làng Phùng ở phía đông sông Đáy trên đường đi Sơn Tây. Nhưng một lần nữa chúng phải nếm mùi thất bại. Đây là lần thứ hai Bu-ê bị bại trận dưới tay Hoàng Kế Viêm. Quân Pháp vẫn chưa thể đụng tới Sơn Tây. Thắng lợi của quân thứ Tam Tuyên do Hoàng Kế Viêm chỉ huy khiến cả Bắc Kỳ dấy lên tinh thần chống giặc hết sức sôi nổi. Lực lượng Hoàng Kế Viêm vẫn đang làm chủ Bắc Kỳ.
Ngày 18 tháng 8 năm 1883, đô đốc Pháp là Cuốcbê (Courbet) chỉ huy một lực lượng hải quân tấn công vào Thuận An, đưa tối hậu thư đòi triều đình Huế giao tất cả các pháo đài rồi nổ súng đánh chiếm đồn trại của quân ta trên bờ. Trên đà thắng thế, thực dân Pháp bắt ép triều đình ký Hiệp ước Quý Mùi, hay còn gọi là Hiệp ước Hác-măng vào ngày 25 tháng 8 năm 1883, thừa nhận Nam Kỳ là thuộc địa của Pháp, chấp nhận sự bảo hộ của Pháp đối với Bắc Kỳ và Trung Kỳ.
Với Hiệp ước Hác-măng, vua Hiệp Hòa phái khâm sai đại thần tức tốc ra Bắc chỉ thị cho Hoàng Kế Viêm cùng các quan văn võ, thần dân Bắc Kỳ phải triệt hết quân rút về Kinh. Nhưng Hoàng Kế Viêm kháng chỉ, không chịu thi hành lệnh hồi kinh mà chỉ rút khỏi phòng tuyến ngoại vi Hà Nội, quyết tâm ở lại Sơn Tây. Noi gương Hoàng Kế Viêm, dân chúng nổi dậy chống sự đầu hàng của triều đình. Hoàng Kế Viêm ở Sơn Tây và Trương Quang Đản ở Bắc Ninh trở thành những trung tâm chống Pháp trên đất Bắc Kỳ.
Sau khi vua Kiến Phước lên ngôi cũng xuống dụ buộc Hoàng Kế Viêm và Trương Quang Đản giải binh về kinh. Tuy nhiên, Hoàng Kế Viêm vẫn không tuân theo mệnh lệnh. Đầu tháng 12 năm 1883, Cuốcbê (Courbet) chỉ huy một đạo quân lớn với gần 6.000 quân Pháp và ngụy binh có nhiều đại bác và tàu chiến yểm trợ tiến đánh Sơn Tây. Sở dĩ quân Pháp chọn Sơn Tây làm điểm tấn công chủ yếu vì đây một mặt là nơi Hoàng Kế Viêm đang trấn giữ, mặt khác là trung tâm của lực lượng kháng chiến ở Bắc Kỳ. Tổng đốc Hoàng Kế Viêm và Lưu Vĩnh Phúc đã chỉ huy quân triều đình chiến đấu anh dũng, từng bước ngăn chặn và làm tiêu hao nhiều sinh lực địch.
Ngày 14 tháng 12 năm 1883, tướng Cuốcbê (Courbet) chỉ huy 550 quân đánh lên Sơn Tây theo cả đường thủy và đường bộ. Đồn Phù Sa thất thủ, quân nhà Thanh tháo chạy làm cho trận địa rối loạn, buộc Hoàng Kế Viêm phải rút quân về đóng ở Hưng Hóa. Được tin thành Sơn Tây thất thủ, triều đình Huế vẫn liên tiếp xuống dụ đòi Hoàng Kế Viêm cùng tất cả đề đốc, lãnh binh triệt binh về kinh nhưng Hoàng Kế Viêm vẫn không chịu tuân dụ.
Gần 3 tháng sau khi chiếm được Sơn Tây, Pháp bắt đầu tấn công Bắc Ninh. Ngày 8 tháng 3 năm 1884, lữ đoàn 2 của Pháp do tướng Négrier chỉ huy từ Phả Lại xuất quân chiếm Yên Định, Xuân Hòa, Đáp Cầu rồi tiến thẳng về Bắc Ninh. Ngày 13 tháng 3 năm 1884, quân Pháp đặt đại bác trên đồi cao chung quanh thành rồi nhất loạt bắn dữ dội vào thành. Cùng lúc đó, lữ đoàn 1 do tướng Brière d’Isle chỉ huy từ Hà Nội qua sông Đuống, tiến sát Bắc Ninh. Quân đội nhà Thanh rút chạy về Thái Nguyên. Bắc Ninh rơi vào tay Pháp.
Sau Sơn Tây và Bắc Ninh, Hưng Hóa là căn cứ cuối cùng của lực lượng chống Pháp trong quân đội triều đình Huế còn sót lại ở chiến trường Bắc Kỳ. Đây cũng là căn cứ cuối cùng do Hoàng Kế Viêm đang nắm giữ. Chưa tiêu diệt được Hưng Hóa cũng đồng nghĩa với việc chưa tiêu diệt được Hoàng Kế Viêm. Ngày 12 tháng 4 năm 1884, tướng Brière d’Isle và tướng Négrier phối hợp chỉ huy 7.000 quân chiếm đánh Hưng Hóa, cứ điểm cuối cùng của Hoàng Kế Viêm. Chúng dùng khinh khí cầu chở người bay lên cao quan sát trận địa, chỉ điểm, hướng dẫn cho bộ binh tiến công và pháo binh bắn phá. Cũng như những lần ở Sơn Tây và Bắc Ninh, thấy quân Pháp tập trung hỏa lực ồ ạt, nên quân Thanh hốt hoảng rời bỏ hàng ngũ rút chạy về Yên Bái, gây rối loạn cho quân Hoàng Kế Viêm đang chiến đấu dũng cảm. Cuối cùng, Hoàng Kế Viêm không thể cứu vãn được nên cũng phải rút quân từ Đan Phượng về đóng ở Thục Luyện, chỉ để lại Tuần phủ Hưng Hóa là Nguyễn Quang Bích và Lưu Vĩnh Phúc đóng giữ mấy đồn ngoại vi thành Hưng Hóa.
Được tin Hưng Hóa thất thủ, triều đình một mặt cử quan mới đến làm việc dưới quyền kiểm soát của Pháp, mặt khác xuống dụ cách chức Thống đốc Quân vụ của Hoàng Kế Viêm và buộc ông phải về kinh chờ lệnh. Tuy nhiên cũng phải nhận thấy rằng, nguyên nhân trực tiếp dẫn đến sự thất bại của Trương Quang Đản và Hoàng Kế Viêm là do quân Pháp biết lợi dụng việc nội bộ triều đình rối loạn, nhiều lần xuống dụ triệt binh, buộc hai ông về kinh. Bên cạnh đó, việc quân Thanh tháo chạy đã làm cho quân lính của ông có phần hoang mang, rối loạn chiến trận. Do đó quân Pháp đã biết khai thác triệt để những điểm này để đánh chiếm Hưng Hóa.
Ngày 6 tháng 6 năm 1884, triều đình Huế đã ký với thực dân Pháp Hiệp ước Patơnốt bao gồm 19 khoản, xác định rõ hơn địa vị bảo hộ của Pháp trên toàn cõi Bắc và Trung Kỳ, biến nhà nước phong kiến thành công cụ tay sai trong nền đô hộ thuộc địa. Sau đó không lâu, vua Kiến Phước lại bị mất ngôi vào tháng 7 năm 1884. Việc chọn người kế vị đều nằm trong ý đồ của các viên quan đại thần đại diện cho phe chủ chiến hay phe chủ hòa và có sự can thiệp của người Pháp. Người đứng đầu phe chủ chiến ở triều đình Huế lúc này là Tôn Thất Thuyết, một người cộng sự với Hoàng Kế Viêm trong nhiều năm ở Bắc Kỳ. Một ông vua đang còn rất trẻ tên là Ưng Lịch (con thứ 5 của Kiên Quốc công) được đặt lên ngai vàng với niên hiệu Hàm Nghi. Được sự phò giúp của Tôn Thất Thuyết và lực lượng của phe chủ chiến tại triều đình Huế nên Hàm Nghi có tinh thần kháng chiến rất cao.
 Nhận thấy không còn có thể dựa vào danh nghĩa triều đình để xây dựng lực lượng chống Pháp trên đất Bắc Kỳ nên tư tưởng từ quan, tìm nơi vui thú điền viên nảy sinh trong lòng Hoàng Kế Viêm. Mặc dù Hoàng Kế Viêm đã dâng sớ xin nghỉ hưu nhưng đơn xin của ông đã bị triều đình mới, dưới sự khống chế của thực dân Pháp đã xuống dụ buộc ông phải vào Huế, ở tại nhà vợ quá cố là Công chúa Hương La trong làng Lại Thế, phía hữu ngạn sông Hương. Sau đó ông giữ chức Thương thư bộ Công.                                                                                                               
Ngày 5 tháng 7 năm 1885, triều đình Huế dưới sự chỉ huy của Tôn Thất Thuyết đã mở cuộc tấn công Pháp ngay tại kinh thành Huế nhưng bị thất bại. Kinh đô thất thủ, Tôn Thất Thuyết phải đưa vua Hàm Nghi xuất bôn ra các tỉnh phía Bắc, xuống dụ Cần Vương, phát động phong trào chống Pháp trên khắp cả nước, tạo thành phong trào Cần Vương và được các văn thân, sĩ phu yêu nước ở các địa phương miền Trung và miền Bắc ủng hộ sôi nổi.
Sau ngày thất thủ kinh đô, chính quyền Huế rơi vào tay thực dân Pháp. Người Pháp đã lập anh ruột vua Hàm Nghi là Ưng Đường lên ngôi, lấy niên hiệu là Đồng Khánh, biến triều đình Huế thành bộ máy bù nhìn để phục vụ cho công cuộc cai trị của thực dân Pháp.
Sau khi De Courcy (Đờ Cuốc-xy) bị triệu hồi về Pháp, ngày 27 tháng 1 năm 1886, Pôn-be (Paul Bert) được cử sang cai trị hai xứ Trung - Bắc Kỳ, mở đầu chế độ quan văn thay cho chế độ quan võ. Paul Bert (Pôn-be) cho rằng, cuộc vây đuổi của người Pháp không những không đàn áp được phong trào mà còn như lửa đổ thêm dầu. Do đó, Pôn-be quyết định sử dụng triều đình Đồng Khánh vào công cuộc chinh phục bằng phủ dụ.
Tháng 6 năm 1886, Pôn-be bắt buộc Đồng Khánh phải thân chinh ra Quảng Bình phủ dụ vua Hàm Nghi về Huế. Pôn-be tin chắc chắn rằng, người phủ dụ Cần Vương đắc lực nhất hơn ai hết chính là vua Đồng Khánh, một ông vua ngoan ngoãn theo Pháp. Trong suốt ba tháng ở Quảng Bình, dù Đồng Khánh ra sức thực hiện đủ âm mưu với một bộ máy tùy tùng hết sức đồ sộ nhưng cũng không thu được kết quả gì trong việc phủ dụ vua Hàm Nghi. Cuối cùng, Đồng Khánh đành phải trở về Huế. Sự bất lực của Đồng Khánh làm cho Pôn-be nghĩ ra một nước cờ cao tay hơn, đó là cưỡng bức những nhân vật đã từng chống lại Pháp đứng ra phủ dụ Cần Vương với mục đích dù không lôi kéo được các lãnh tụ chủ chốt thì cũng gây hoang mang, dao động hàng ngũ chống Pháp. Hoàng Kế Viêm chính là nhân vật mà người Pháp nhắm đến.
Khi phong trào Cần Vương nổ ra mạnh mẽ ở Quảng Bình, tên thực dân Pôn-be  xảo quyệt đã tìm cách lợi dụng uy tín của Hoàng Kế Viêm để giải giáp lực lượng Cần Vương nên đã xúi tên vua bù nhìn Đồng Khánh phong cho ông làm An Phủ sứ Hữu Trực Kỳ đi chiêu dụ các nghĩa quân Cần Vương. Năm 1887, dưới sự giật dây của người Pháp, vua Đồng Khánh phục hồi chức tước cho Hoàng Kế Viêm, xuống dụ buộc Hoàng Kế Viêm nhận chức An Phủ sứ Hữu Trực Kỳ (từ Quảng Bình đến Thanh Hóa) nhưng thực chất là phủ dụ các toán quân Cần Vương ở địa bàn. Đây là một bước ngoặt hết sức quan trọng đối với cuộc đời của Hoàng Kế Viêm. Biết không thể từ chối lệnh vua vì lúc này đã trong vòng cương tỏa của Pháp và triều đình, ông đã thi hành mệnh lệnh bằng việc lên đường. Tuy nhiên, Hoàng Kế Viêm đã tuyên chiến một cách khéo léo bằng việc đòi Pháp phải cấp cho ông 500 quân lính và 500 khẩu súng kiểu mới. Hoàng Kế Viêm thừa biết là bọn Pháp không dại gì mà cấp quân lực và vũ khí cho ông. Đây là một trong những kế sách khôn ngoan của ông nhằm mục đích từ chối khéo công việc mà thực dân Pháp và triều đình bắt ông làm. Như vậy, thực dân Pháp đã không thể lợi dụng được Hoàng Kế Viêm mà còn phải bị động đối phó với ông nên thực dân Pháp phải lệnh cho vua Đồng Khánh triệu hồi ông về lại Kinh. Kết quả là chỉ trong vòng 8 tháng giằng co khá gay gắt, Pháp đã thất bại.
Không cam chịu tuân theo điều trái đạo lý nhưng cũng không thể bất tuân chỉ dụ của vua nếu không muốn phạm trọng tội "khi quân", ông đã tương kế, tựu kế "gậy ông đập lưng ông", dùng ngay kế của Pháp và triều đình (dùng ông để phủ dụ Hàm Nghi) làm cơ hội bảo vệ nghĩa sĩ Cần Vương. Ông đã lợi dụng quyền đó để yêu sách với Pháp và Nam triều, làm kế "hoãn binh", che chở cho phong trào kháng Pháp dưới ngọn cờ Cần Vương ở Quảng Bình. Đến đây, âm mưu sử dụng người phe chủ chiến để đánh bại phe kháng chiến, dùng người Việt đánh người Việt của Pháp đã bị thất bại.
Biết rằng không thể lợi dụng được Hoàng Kế Viêm nên trong các bức điện của Toàn quyền Đông Dương gửi cho Khâm sứ Huế ngày 28/9/1887 và bức điện của Khâm sứ Huế trả lời Toàn quyền Đông Dương vào tháng 29/9/1887, họ buộc phải cay đắng thừa nhận thất bại của mình, chấp thuận nguyện vọng nghỉ hưu của Hoàng Kế Viêm.
Có thể nói, bằng hành động, việc làm cụ thể và thiết thực, các danh tướng  Quảng Bình và từ mọi miền Tổ quốc đến Quảng Bình, dù ở chế độ và thời đại nào, bằng tấm lòng trung quân ái quốc đã không phụ lòng ủy thác của triều đình (phong kiến), của Nhà nước giao cho, làm tròn trách nhiệm của mình là lãnh đạo quân dân lập nên những chiến công vẻ vang cho dân tộc và quê hương. Trong suốt cuộc đời mình, Hoàng Kế Viêm lúc nào cũng thể hiện một tấm lòng yêu nước mãnh liệt, tinh thần quyết tâm chống giặc ngoại xâm bảo vệ độc lập dân tộc. Hoàng Kế Viêm là một người có tinh thần yêu nước chống Pháp quyết liệt, có tấm lòng thương dân sâu sắc, trước sau đều có những cách ứng xử, đối phó thích hợp. Trên chiến trường, ông luôn luôn chứng tỏ bản thân là một vị tướng có tài, cương quyết tiêu diệt kẻ thù; đối với dân là một sự quan tâm chăm sóc đến đời sống và hết lòng phục vụ nhân dân.
Với cuộc đời 24 năm làm quan văn, 19 năm làm võ tướng, được phong nhiều chức quan nhưng khi về hưu, ruộng lộc điền Hoàng Kế Viêm nhận là cồn hoang Thế Lộc và xin khẩn hoang làm ruộng tự điền quanh cồn Thế Lộc, một cồn đất nước mặn bốn bề, cách hói cách sông. Ông đã bắt con cháu tự đi khai khẩn ruộng hoang để sinh sống. Chính điều đó càng làm tỏa sáng thêm nhân cách cao đẹp của một bậc chính nhân quân tử, luôn luôn sống khiêm nhường, giản dị, không màng tới danh lợi của Hoàng Kế Viêm.
Dù xuất thân con nhà Thượng thư triều Gia Long, thân làm Phò mã của vua Minh Mạng nhưng Hoàng Kế Viêm nổi tiếng là một vị quan thanh liêm, luôn tận tụy với nhân dân và tìm cách giúp dân an cư lạc nghiệp. Bên cạnh tài năng quân sự, tài năng của ông còn được thể hiện trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị qua thời gian làm quan trị nhậm tại các tỉnh như giải quyết nạn đói, vỡ đê và an dân ở Hưng Yên năm 1856. Năm 1863, Hoàng Kế Viêm được triều đình điều đến làm Tổng đốc An - Tĩnh, đây là một trong những địa phương nghèo, cư dân lương - giáo đang mâu thuẫn. Vì vậy, việc đầu tiên khi Hoàng Tá Viêm đến Nghệ An là ông khéo léo xoa dịu mâu thuẫn lương - giáo, lấy đó làm biện pháp an dân lâu dài. Ông đã không quản sự lao tâm khổ trí tìm kế sách mở mang nông nghiệp, phát triển giao thông về đường bộ, xây dựng các kênh thủy lợi phục vụ vấn đề tưới tiêu, mở mang giao thông và phát triển thương mại. Ông vận động nhân dân ủng hộ và tham gia việc đào kênh Thiết Cảng, sau đó ông đã mời nhà cải cách Nguyễn Trường Tộ đến giúp lập phương án đào kênh để chủ động tưới nước, mở mang giao thông và phát triển thương mại. Kênh Thiết Cảng sau khi hoàn thành đã làm thay đổi bộ mặt kinh tế An - Tĩnh theo hướng khởi sắc và phồn thịnh, góp phần không nhỏ trong việc bình ổn tình hình, chấn hưng thế nước.
Khởi đầu là một quan văn nhưng trong sự nghiệp làm quan của mình, dù ở cương vị nào thì ông cũng luôn luôn thể hiện được tài năng “kinh bang tế thế” của mình. Làm quan ở nhiều địa phương, ông đặc biệt quan tâm đến đời sống nhân dân nên dân được an cư lạc nghiệp và có cuộc sống ổn định. Cuộc đời của Hoàng Kế Viêm khắc họa một cách chân thực chân dung một con người vì dân vì nước theo chủ nghĩa “trung quân ái quốc”. Hoàng Kế Viêm không chỉ là một võ tướng uy dũng mà ông còn là nhà thơ, nhà sử học với nhiều tác phẩm để đời.
Về cuối đời, ông vẫn giữ được sự thanh bạch của một vị quan thanh liêm, sự khiêm nhường của một nhà nho nặng lòng đối với nhân dân và đất nước. Ông từ chối mọi chức tước, bổng lộc của vua ban để sống một cuộc sống gần gũi với dân chúng. Hoàng Kế Viêm qua đời ở làng Văn La năm 1909, thọ 89 tuổi.
Với những đóng góp to lớn của mình, Hoàng Kế Viêm thật sự xứng đáng là một người con ưu tú của quê hương Quảng Bình, một tấm gương sáng chói cho thế hệ trẻ chúng ta noi theo. Tên tuổi của Hoàng Kế Viêm mãi mãi được khắc ghi vào trang sử hào hùng chống ngoại xâm của dân tộc như một biểu tượng cao đẹp cho tinh thần yêu nước, khát vọng độc lập tự do, ý chí tự cường và tinh thần dũng cảm trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, để lại nhiều bài học quý cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hôm nay.
 
         Trần Thị Hồng Duyên biên tập từ sách “Hoàng Kế Viêm” của tác giả Nguyễn Tú và Kỷ yếu Hội thảo “Hoàng Kế Viêm trong tiến trình lịch sử cận đại Việt Nam”, Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Quảng Bình tháng 11/2010.
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

  • Đang truy cập2
  • Hôm nay148
  • Tháng hiện tại2,137
  • Tổng lượt truy cập124,196
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây