DƯƠNG VĂN AN

Thứ bảy - 17/03/2018 09:31
DƯƠNG VĂN AN
DƯƠNG VĂN AN - QUÊ HƯƠNG, THÂN THẾ, SỰ NGHIỆP
NGUYỄN TÚ
Nhà nghiên cứu Văn hoá và Lịch sử

Quê hương, thân thế, sự nghiệp
Thời xưa, người Đồng Hới muốn đi Lệ Thủy, thường phải đi đò, gọi là đò Trạm.
Cứ khoảng quá hoàng hôn một lúc, đò xuất phát. Phải chống chèo suốt đêm, sáng mờ sương mới kịp cặp bến chợ Tréo, sát bên trụ sở huyện lỵ.
Khách đi đò Trạm thường nghe người chèo đò hát:
“Ai lên Tuy, Đợi thì lên!
Bún thịt chợ Tréo chớ quên đem về...”
Tuy, Đợi là đâu? Xin thưa: Tuy là làng Tuy Lộc, Đợi là làng Đại Phong. Làng Tuy còn gọi là làng Kẻ Tùy! Làng Đợi, còn gọi là làng Kẻ Đợi. Hai làng nguyên từ một làng Đại Phúc Lộc chia ra. Bên cạnh Đại Phúc Lộc còn làng Tiểu Phúc Lộc. Làng này cũng có tên là Kẻ Tiểu, đều nằm trên bờ phải sông Kiến Giang, phía hạ lưu huyện Lệ Thủy, ngày nay gọi là thị trấn Kiến Giang.
Tương truyền, vào đời nhà Mạc làng Đại Phú Lộc, Tiểu Phúc Lộc là những nơi sản sinh ra nhiều tướng tài ba, vua Mạc sợ vùng đất này phát sinh vượng khí đế vương, sẽ uy hiếp ngôi vua họ Mạc, nên ra lệnh quân quan đào một con hói (kênh) từ sông Bình Giang (tên sông Kiến Giang thời đó) đến làng Mĩ Phước, xuyên thẳng giữa hai làng nói trên với ý đồ cắt đứt “long mạch” vùng “Hai Huyện” (tên gọi dân gian hai huyện Lệ Thủy, Khang Lộc thời Mạc).
Con hói này, ngày nay có nhiều tên: nào là kênh nhà Mạc, nào là hói Mĩ Phước, nào là hói Đợi. Truyền thuyết còn kể rằng khi con kênh đào xong, nước trong lòng kênh sôi lên và đỏ như máu. Người đương thời gọi đó là máu rồng bị cắt đứt, trào lên và lo sợ... Thế nhưng, “long mạch” vùng “Hai Huyện” vẫn cứ dồi dào, nhân tài vẫn sinh sôi nẩy nở, sản vật quý hiếm vẫn được phát triển đều đều:
“Chiếu hoa làng Đợi
Giấy bồi kẻ Tuy
Rượu ngon làng Tiểu!...
Dương Văn An sinh ra tại vùng đất này. Quê ông chính là làng Tuy Lộc, nơi mà ông đã mô tả: “đường sá đi suốt bốn phương, thuyền ghe buôn bán tấp nập, là một nơi đô hội của phủ Tân Bình...”[1].
Hiện nay, chúng ta chưa biết đích xác ông sinh vào năm nào, nhưng theo sách “Đại Việt lịch triều đăng khoa lục” thì ông đậu tiến sĩ lúc 30 tuổi tại khoa thi Đinh Mùi, triều Mạc Phúc Nguyên năm thứ nhất, mà năm Đinh Mùi, tức là năm 1547, nên có thể ước định ông sinh vào năm 1517. Tuy vậy, theo ông Trần Văn Giáp trong sách: “Tìm hiểu kho báu Hán Nôm tập I” thì Dương Văn An lại sinh năm 1527, mất năm 1591, và sách Từ điển Nhân vật lịch sử Việt Nam[2] lại chép ông sinh năm 1514, mất năm 1591.
Căn cứ lời tựa đề của ông trong tác phẩm Ô châu cận lục, rằng: “...tôi là học trò, sinh trưởng ở đất này, thấm nhuần giáo hóa đã lâu ngày, thi đậu tiến sĩ năm Đinh Mùi...” tỏ ra ông đã sống ở làng quê Tuy Lộc suốt cả tuổi học trò, cho đến khi thi đỗ, ra làm quan mới xây dựng gia thất ở thành Đông Kinh (Hà Nội).
Hiện nay, tại làng Đinh Quán, xã Phù Diễn, huyện Từ Liêm (Hà Nội) còn có hậu duệ của ông như các ông Dương Thanh Thưởng, Dương Thanh Thỉnh, Dương Thanh Soạn... đều chỉ biết Triệu tổ của họ ở Quảng Bình ra làm quan rồi lập gia đình ở làng này, sinh hạ ra dòng họ Dương, mà không biết mộ phần ngài ở đâu.
Cũng vậy, tại làng Tuy Lộc, xã Lộc Thủy, huyện Lệ Thủy, họ Dương có ba chi: Dương Văn, Dương Công, Dương Doãn... Riêng chi Dương Văn, do ông Dương Văn Vĩnh, làm trưởng có chỉ cho chúng tôi một đoạn ghi trong gia phả như sau:
“...Ngày 4 tháng 11 năm Mậu Dần (1578, hay 1638 hay 1698?...) ông Dương Văn Lương (?) đưa từ ngoài Bắc về 20 hài cốt để cát táng, trong đó có cả hài cốt cụ Dương Văn Nhân là thân sinh Dương Văn An, đặt ở dưới chân núi An Mã...”.
Như vậy, chúng ta biết, năm 1553, Dương Văn An về làng Tuy Lộc chịu tang, rồi viết Ô châu cận lục là chịu tang mẹ, và sau hai năm “đình gian” (cư tang) vùng đất Tân Bình, Thuận Hóa đã thuộc Lê - Trịnh, ông có trở ra Bắc hay không, rồi mất ở đâu, mộ phần ở chỗ nào gia phả họ Dương ở Tuy Lộc cũng như họ Dương ở Từ Liêm không thấy ghi chép, chỉ biết rằng, trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, tại Tuy Lộc, có ngôi miếu thờ các bậc danh nhân, gọi là miếu Tiên Hiền trong đó có thờ Dương Văn An, (đến nay miếu không còn).
Qua các thư mục cổ hiện có, vùng đất Tân Bình (Thuận Hóa) suốt từ Lý, Trần, Hồ, Lê về mặt học hành khoa bảng, thì Dương Văn An là vị Tiến sĩ thứ hai sau Trạng nguyên Trương Xán, người làng Hoành Bồ, huyện Hoành Sơn (Bố Chính) đỗ năm 1256 dưới đời vua Thái Tông nhà Trần.
18 năm sau Dương Văn An đỗ Tiến sĩ, huyện Lệ Thủy mới có Lê Đa Năng nối gót học vị này vào năm 1565, dưới thời vua Lê Anh Tông niên hiệu Chính Trị năm thứ 8. Thời kỳ này, mặc dù Nguyễn Hoàng đã làm Trấn thủ Thuận Hóa, nhưng chưa xảy ra chiến tranh Trịnh - Nguyễn, vùng đất Bố Chính chưa lệ thuộc vào phủ Tân Bình (sau Nguyễn Hoàng đổi ra Quảng Bình), nếu “cứ” chép, dù là tùy tiện, nhân vật Bố Chính vào danh mục “nhân vật chí” đi nữa, thì các nhà khoa bảng thời trước triều Nguyễn ở Quảng Bình cũng thật là hiếm, quý! Bởi vì, sau Lê Đa Năng 15 năm mới lại có thêm Nguyễn Trạch người Bố Chính đậu Tiến sĩ năm 1580 dưới triều Lê Thế Tông, niên hiệu Quang Hưng thứ 3. Và vị Tiến sĩ cuối cùng của vùng đất ngày nay gọi là Quảng Bình trong các triều đại từ Lý đến Lê Trung Hưng, trước Nguyễn, là Phạm Đại Kháng, người huyện Lệ Thủy (không rõ xã) đậu năm 1592 (sau Nguyễn Trạch 12 năm) dưới thời Lê Thế Tông, niên hiệu Quang Hưng thứ 15.
Tóm lại, nếu tính từ khi Lý Thường Kiệt mộ dân lập ấp, xây dựng ra thôn xóm, làng xã, đặt nền móng hành chính nơi phên dậu cho quốc gia Đại Việt đến hết triều Lê (Lê Chiêu Thống) hơn 700 năm (1075-1788) mà cả tỉnh Quảng Bình (gọi theo địa danh ngày nay) chỉ có 5 vị tiến sĩ (trong đó có một trạng nguyên), thử hỏi có hiếm quý hay không?
Trong bối cảnh lịch sử của nền học vấn ấy, vai trò của Dương Văn An sẽ ra sao, mặc dù ông lớn lên, đi thi, đỗ đạt, ra làm quan với triều nhà Mạc! Chắc chắn, người Quảng Bình đương đại hoặc bây giờ cũng phải căn cứ vào bối cảnh lịch sử đó mà đánh giá vị trí khoa bảng và văn học của Dương Văn An.
“Sau khi thi đỗ, Dương Văn An được nhà vua Mạc bổ đi làm quan. Theo quan chế thời ấy, những người đỗ đại khoa đều giữ chức tri huyện hoặc viên ngoại lang; từ chức vụ này sẽ thăng lên phó hiến sát sứ, rồi đô cấp sự trung. Khi viết sách Ô châu cận lục, Dương Văn An đã giữ chức Lại Khoa đô cấp trung sự, tước Sùng Nham bá (1555). Chỉ trong 8 năm mà ông đã đạt đến chức vụ ấy, tỏ ra ông đã không gặp trở ngại gì trên đường hoạn nghiệp...”[3].
Từ đó đến khi chết, ông đã trải qua chức vụ Tả Thị lang bộ Lại, rồi lên Thượng thư (không rõ bộ nào) với tước Sùng Nham hầu. Sau khi mất, được truy tặng Trấn Quận công.
Vậy là sự nghiệp của Dương Văn An nằm trọn vẹn dưới thời nhà Mạc nắm quyền bính (1527-1592). Như thư mục cổ đã ghi nhận, nước ta vào thời vua Lê Uy Mục (1505-1509), Lê Tương Dực (1509-1516) chính sự đã suy đồi đến mức: nhân dân đánh giá các ông vua này là “Vua lợn, vua quỷ”, thì nạn cát cứ và nổi dậy, thay đổi triều chính ắt khó tránh khỏi!.
Việc Mạc Đăng Dung phế vua Lê Cung Hoàng, giành lấy chính quyền cũng nằm trong cảnh vì nhân dân không còn chịu nổi nạn “Vua quỷ, vua lợn” ấy, có lẽ cũng mong muốn đem lại sự an cư lạc nghiệp cho nhân dân. Tuy nhiên, “Nhà Mạc không phải là một chính quyền có khả năng giải quyết các mâu thuẫn với giai cấp phong kiến”[4] cho nên một số công thần cũ của nhà Lê đứng ra chống lại, như Nguyễn Kim ở Thanh Hóa, Trịnh Ngang ở Thái Nguyên, Vũ Uyên ở Tuyên Quang, hình thành cục diện cát cứ và Nam - Bắc triều: phía Bắc thuộc triều Mạc, phía Nam thuộc triều Lê...
Mặc dầu nạn cát cứ kéo dài triền miên mấy trăm năm, nhưng riêng nhà Mạc chỉ tồn tại 65 năm, vẫn luôn luôn mở khoa thi chọn nhân tài, tỏ ra nhà Mạc coi trọng việc học. Một số không ít nhân vật nổi tiếng đã ra giúp triều Mạc như Nguyễn Bỉnh Khiêm (Trạng Trình), Giáp Hải, Đỗ Uông, Phạm Tuấn... Điều đó cũng thể hiện phần nào dưới chế độ nhà Mạc cũng có cơ sở xã hội nhất định.
Dương Văn An phục vụ nhà Mạc, cũng giống như các sĩ phu đương thời, ra làm quan theo đạo lý giúp dân, cứu nước, thì dù ở triều đại nào mà họ đã sinh ra, lớn lên, họ cũng đinh ninh một lòng như vậy, là lẽ tự nhiên. Mặt khác, Dương Văn An cũng chưa hề làm tôi nhà Lê, việc ông theo nhà Mạc là điều tất yếu, không có gì đáng trách. “...Điều cần nói đến là trong suốt cuộc đời làm quan, ông làm được gì ích nước lợi dân và có giữ được một phẩm chất tốt hay không. Tiếc rằng tài liệu quá ít, không cho phép chúng ta giải đáp được điều này. Nhưng qua một số suy nghĩ riêng mà ông đã ghi lại, chúng ta nhận ra được ở ông một con người biết yêu quê hương, đất nước, biết tôn trọng công lao vất vả của cha ông... Một con người như thế, trong hoàn cảnh nào cũng có phần đáng trân trọng, yêu quý...”[5].
Ông thường cho rằng mình có một số thành đạt nhất định là nhờ quê hương, xứ sở hun đúc lên phong tục, nhân tài (tri phong tục di chuyển chi diệu, nhân văn tác thành chi triều, cửu dĩ huân đào hàm dục). Ông thường tự nhắc nhở mình và cảnh giác mình rằng: Phải luôn nhớ công lao của tổ tiên, cha mẹ đã từng gian khổ nuôi dạy mình nên người (niệm tổ phụ chi gia nan), và một điều thiện, một việc lành còn có giá trị và đáng mong mỏi chiếc áo vua ban, và một điều ác, một việc dữ đáng phải chịu búa rìu chém phạt, lên án. (Nhất thiện chi bao vinh hoa cổn, nhất ác chi biến lẫm hồ phù Việt)5.
Dương Văn An với tác phẩm Ô châu cận lục
Như trong lời tựa Ô châu cận lục, Dương Văn An đã viết:
“...Qua năm Quý Sửu (1553) cư tang ở nhà, nhân biên khảo các tác phẩm, (gặp khi) có hai chàng thư sinh, vốn người đồng hương, cùng nhau biên soạn hai quyển sách Tân Bình... Bên trong, những tình trạng núi sông, những danh sắc cảnh vật, cũng là đất lề quê thói, kẻ dở người hay đều rõ ràng như nhìn trên bàn tay vậy...
Tôi xem quyển sách này rất lấy làm vui thích, bèn không tự lượng sức mình, mới tham khảo các tín sử, tra cứu thêm những chuyện khẩu truyền... chỗ rườm rà thì bỏ bớt, chỗ sơ lược thì bổ thêm, đặt tên là Ô châu cận lục, cốt ý để làm thử sách xem riêng mà thôi (...) Nhưng nghĩ lại: một câu hát, câu vè của con trẻ, một lời khen chê của xóm làng, thánh nhân cũng còn ghi chép nữa là nội dung quyển sách này chép cả núi sông quanh co, hình thể hiểm hóc... Một chút sản vật cũng là tiền của nhà nước, những nơi cầu quán cũng là phản ánh của chính trị...”[6].
Trong quá trình nâng cao hai tập sách về phủ Triệu Phong, Tân Bình của hai người học trò thành một cuốn “địa chí” của 2 xứ Thuận - Quảng. Mặc dầu ông không nói ra, nhưng người đọc cũng thấy, phần gia công của ông đã làm rõ sự phân biệt giữa phần ông dựa vào tư liệu của hai người viết trước với phần chính ông nghiên cứu và bình luận.
Ông Lương An trong tập “Danh nhân Văn hóa Quảng Bình” [7] đã nói rõ sự khác biệt đó một cách chi tiết rằng:
“...Khác biệt về quan điểm địa lý, nhân văn, bỏ cách chia ra hai phủ riêng mà nhập lại thành một vùng thống nhất về ranh giới, thuần nhất về phong tục, tập quán sinh sống, đồng nhất về văn hóa, lịch sử; khác biệt về mục đích, sách (Ô châu cận lục) không chỉ nhằm cung cấp tư liệu mà chủ yếu là để phát huy truyền thống tốt đẹp, khắc phục thói hư tật xấu trong nhân dân, hay nói như tác giả để “khuyến khích và răn ngừa”.
Những khác biệt này, cùng với những khác biệt do phần sau bổ sung của ông đưa lại, đã khiến bóng dáng hai tập sách cũ mất hẳn đi, đến nỗi, dù Dương Văn An đã nói rõ... người đọc đời sau vẫn phải xem Ô châu cận lục là tác phẩm của chính riêng ông.
Thật vậy! đọc xong Ô châu cận lục, chúng ta ngày nay càng biết rõ thêm quê hương Quảng Bình ngày xưa cũng đẹp, cũng giàu có; người Quảng Bình ngày xưa cũng anh hùng; sản vật Quảng Bình ngày xưa cũng phong phú dồi dào; phong tục tập quán, lễ giáo đạo đức Quảng Bình ngày xưa có nhiều cái hay, cái tốt cũng như cái xấu cái dở, qua đó mà càng yêu quý quê hương thêm. Điều đáng mừng hơn là không chỉ một mình Quảng Bình chúng ta là đáng yêu đáng quý mà cả Quảng Trị, Thừa Thiên cũng lộng lẫy, cũng tươi sáng, cũng trung dũng, giàu sang không kém, và cũng qua đó, chúng ta lại càng yêu quý cả non sông đất nước chúng ta!
Nói chung, Ô châu cận lục là một cuốn sách địa chí hoàn chỉnh, chứa đựng nhiều tư liệu địa lý, lịch sử, văn học, thắng tích, phong cảnh, nhân vật, văn hóa... hết sức quý giá cho những ai muốn tìm hiểu quá khứ của cả vùng Bình - Trị - Thiên ngày nay. Điều đặc biệt là dưới ngòi bút của Dương Văn An, Bình Trị Thiên nói chung, Quảng Bình nói riêng, không còn khắc khổ, đen tối, như câu ca dân gian:
“Quảng Bình là đất Ô châu
Ai đi đến đó mang bầu về không”, nữa (!) mà là:
“...Nhân dân thì đàn ông khá cương cường, đàn bà hơi mềm mại. Tiếng nói thì hơi giống miền Hoan Ái; áo dài mặc không khác lối Trung Hoa. Đồng bằng thì nông tang vốn sẵn nghiệp nhà; bờ biển thì cá muối là kho vô tận! (...), xóm làng trù mật nên gà chó từng đàn, cỏ nước ngon lành nên trâu bò béo tốt (...). Xuân sang thì mở hội bơi trải, gái lịch trai thanh; hạ tới thì bày cuộc đấu thăm, dập dìu rộn rã nơi ca chốn múa... Có người, có của, theo thói, theo lề!... Tháng tư, tháng năm thì lúa để ngoài ruộng mà quá kỳ chưa thu về; tháng sáu, tháng bảy thì thả trâu ngoài đồng mà cả tuần không chăn dắt...” [8].
Cuộc sống như vậy, sao lại bảo: ai đi đến đó mang bầu về không? Riêng một phủ Tân Bình, một châu Bố Chính hay một huyện Khang Lộc, Lệ Thủy (nay là tỉnh Quảng Bình). Dương Văn An đã giới thiệu với mọi người: ví như về núi sông, địa hạt thì:
“Đất vốn là Ô châu, sông gọi tên Lệ Thủy, non nước Minh Linh nhân dân Khang Lộc. Châu thành quanh hạt Bố Chinh, địa giới quanh hạt Tân Bình (...) Cao ngất kìa, dãy Hoành Sơn, màu thu một vẻ; thanh u ấy, hang Linh Động, hoa xuân bốn mùa; núi Đâu (Mâu) phảng phất cung Đâu xuất [9] (...) Ngọn Mã yên cao ngất, Kỳ hình át chín tầng mây; núi Thần Đinh nguy nga, hùng khí đè bốn trăm cõi. Núi Lễ Đệ lớp lớp tựa hổ nằm; sông (vực) An Sinh khúc khúc như rồng lặn (...).
Rõ ràng, dưới con mắt của Dương Văn An, non nước Quảng Bình đâu phải là nơi “Ô châu ác địa” mà là một nơi nước non kỳ thú, hùng tráng, xinh tươi...
Núi sông như vậy, làng xóm thì như sau:
“(...) Làng Nguyệt Áng (Quảng Ninh ngày nay) non sông lồng bóng nguyệt, xã Xuân Hồi (Lệ Thủy ngày nay) vườn tược đượm màu xuân (...) nét xuân sơn chắn làng Phù Trạch (hay làng Phù Trịch, Quảng Trạch ngày nay) mơ màng vân nữ nhớ thương ai; sóng thu ba gợn nước Khương Hà (Bố Trạch), linh lợi tuyết nhi tiễn khách...”[10].
Về sản vật, cách làm ăn, phong tục, tập quán, Dương Văn An không những ca ngợi cái tốt, cái hay mà cũng “dám” nêu lên cái không hay không đẹp. Ví như:
“...Trai làng Vũ Khuyến, chăm việc canh nông; gái xã Trường Dục theo nghề khung cửi. Hai xã Hà Cừ, Động Hải vẫn nấu muối xưa nay; cả xã Tân Lệ (Quảng Ninh), Thạch Bồng (Thạch Bàn, Lệ Thủy) kéo vó bè sớm tối (...)10
...“Nhân dân xã Tân Duyệt giàu có nổi tiếng, gái góa làng An Xá tiết nghĩa vang danh (...) Tuy Lộc nhiều rượu ngon; Cổ Gia lắm gái điếm; gái làng Thổ Ngọa hay lên rừng, trai làng Tuy Lộc thì hay đi chợ... xã Bùi Xá thì nhiều ruộng, xã Ngô Xá thì ít người... Người làng Cao Lao, Thị Lễ thích học văn chương; dân xã Đại Đan, Tiểu Đan giỏi nghề đánh vật (...)10
...“Vải Lệ Sơn đỏ thắm, tựa cô nàng trăm vẻ mỹ miều; quýt Quất Xá vàng tươi, giống tì bộc, mấy hàng chen chúc... Lá trầu làng Phù Lưu từng khóm quấn quanh; cây dâu xã Tang Du từng hàng rậm rạp... xóm làng An Xá yên ổn quanh năm; con gái Cư Triều nhởn nhơ cả tháng (...) xã Tùng Chất thì dân không xa xỉ, làng Quy Hậu thì tục hết kiêu ngoa (...) Văn Yến, Văn La sẵn tay văn sĩ; Vũ Khuyến, Vũ Thị lắm kẻ vũ phu...”10
Cuối mục tổng luận về phủ Tân Bình, Dương Văn An đã khẳng định:
“...Ngẫm xem, có cảnh như thế tất có người như thế. Thời với cảnh đổi mới, cảnh với người hợp nhau, dẫu khí tượng nước Ngô, phong vật nước Sở, cũng không hơn thế được...”10
Với chúng ta ngày nay, chỉ cần từng ấy tư liệu trong mục phủ Tân Bình của Dương Văn An để lại, cũng đủ soi sáng quá trình cuộc sống của quê hương ta cách đây gần 500 năm!
Quảng Bình xưa kia, dưới ngòi bút Dương Văn An thì như vậy, còn với Thuận Hóa (Quảng Trị - Thừa Thiên) thì ông viết thế nào? Xin dẫn ra vài nét:
“...Lộ Thuận Hóa nước ta, ở phía cực nam, Triệu Phong có 5 phủ huyện, non sông kỳ tú, ruộng đất mở mang, nhân dân đông đúc, thực là một nơi đô hội lớn của một phương. Cảnh tượng vui tươi, phong vật quý giá, còn đâu hơn nữa?(...) Hãy xem:
...Dân theo giáo hóa, mùa gặp phong đăng, bờ cõi lâu đời, phong cảnh mới. Thượng Lĩnh, Quy Lĩnh hình thế thực hùng tráng: Tả Giang, Hữu Giang dòng nước rất bao la! Ngọn Lỗi Sơn chót vót nghìn trùng, sông Linh Giang (sông Hương) mông mênh vạn khoảnh! Núi Hương Uyển khói xanh nghi ngút, đèo Hải Vân mây biếc mịt mù; sông to thì sông nổi lưng trời, bể cá thì nước bao mặt đất!... (...) xã Câu Nhi có nền tuấn dật, Bùi Tả Thị lừng danh; xã Hà Khê có nước sạch trong, Lê Thương thư để tiếng (...) con gái Bích Trâm điểm trang vàng ngọc; đàn bà Kim Khuê giữ kín buồng the... Nguy nga lầu Tần quán Sở, xã Tiền Thành nhiều sắc đẹp mê hồn; dọc ngang ngõ liễu đường hoa, làng Đan Thị lắm gái chơi đón khách! (...) …
Dương Văn An viết sách Ô châu cận lục với ý thức rõ rệt rằng: “Cầu quyền về cái đạo ngũ đức, tha thiết về cái mối tam cương, có phải chỉ là mô tả phong cảnh, phê bình thói tục mà thôi đâu! Sau khi xem mà tìm hiểu ý nghĩa cuốn sách này, nếu biết suy rộng ra, thì thấy non sông tốt đẹp, có thể biết đất quý người hay (...)”[11].
Cho nên, cuối tập sách, ông đã giành riêng một phần lớn số trang để viết chuyện danh nhân (anh hùng, liệt nữ), ca ngợi khí phách con người Ô châu11. Đọc những đoạn văn sau đây của ông, chúng ta thấy hiện lên những hình ảnh bằng da bằng thịt của những bậc anh hùng thời bấy giờ và lòng ta cảm phục biết bao cái đức trọng nghĩa khinh tài, hy sinh vì nước vì dân của các tiền bối đất Ô châu!
Ví dụ:
“...Địa phương ta, mặt đất thì non sông tốt đẹp, bể cả thì sông nước mênh mông, sông Bình Giang trong trẻo, sông Linh Giang bao la, vẻ đẹp hùng vĩ của núi Hoành Sơn, vẻ xinh đẹp của núi Linh Sơn (...) Địa hình đã như thế, có lẽ nào không chung đúc ra những người tuấn kiệt, kết tinh nên những bậc tài học được ru? (...) xem như Phan Thổ Rí (tức Phan Mãnh) có tướng tài đảm lược, Hồ Hóa Châu (tức Hồ Hưng) liên nhân với nhà vua, đều là người hùng trưởng một phương; còn như Đặng Tất, thắng trận Bồ Cõ, quận uy lừng lẫy lại càng xuất sắc hơn! Xem cái mực hơn kém của nhân vật, quan hệ đến cơ an nguy của nước nhà, như cái đức trung nghĩa, trí dũng của Đặng Tất, thực là nhân tài của cả nước, chứ không phải nhân tài riêng của Ô châu! Chỉ tiếc ông bị người gièm mà phải chết uổng, đến nổi chí lớn dở dang mà không được thành công, nên có thể nói Đặng Tất bị chết không phải tội ông, chính là cái không may của nhà Trần thời đó: [12]
Quân tử có thể lấy sự thành bại mà phê phán anh hùng được ru? (...) Kìa như Đặng Dung 12 lấy một toán quân cô đơn mà phá được giặc mạnh giữa buổi nguy vong, tức là Trương Thế Kiện đối với Đế Binh nhà Tống vậy![13].
Có thể theo thường lệ mà nghị luận của tướng tài được ru? (...) Phạm Triệt là một quan nhỏ mà trong khi khốn đốn còn biết gánh vác cương thường. Xem bài đề quạt: “dẫu chết như sống. Trọng nghĩa khinh sinh, một luồng chính khí, sông núi nhật tinh!”. Lời tán ấy tựa có quỷ thần chứng trị, khiến người nghe sinh lòng kinh hãi... (...) Phạm Khắc Khoan, người xã Đại Đan, châu Bố Chính năm thứ bảy, niên hiệu Canh Lịch nổi lên (đời Mạc Phúc Nguyên 1547-1561), phụng mệnh làm Thái tướng dinh Thuận Hóa, trở về bản đạo tập hợp quân lính, cha con, anh em, đánh nhau với giặc Liễu - lâm - hầu ở chân núi Nghịch. Tiết, vì thế lực yếu, bị giặc giết hại, con em cả nhà bị chết hơn hai mươi người...13
...Ôi! một luồng chính khí, ở trời là nhật tinh, ở đất là sông núi, ở người thì là những bậc tiết nghĩa trung trinh, hạng người ấy đời nào mà không có? Phạm Khắc Khoan đương khi đen tối, há không biết thân sinh là yên ổn ư? Thế mà, anh em cả nhà đành chịu cho giặc sát hại, chính là treo gương sáng cho những kẻ quên ơn phụ chúa trông thấy mà tự hổ ngươi! (...)13
...Xem thế thì đạo làm con chết vì đạo hiếu, làm tôi chết vì đạo trung, dầu chết có hề gì? (...) Một khi cái linh tú đã đúc nên người, cái kỳ khí đã sản ra kẻ sĩ, thì, những hạng người ấy có phải chỉ toan tính đường công danh lợi lộc đâu? (...) Nếu bỏ nghĩa không bàn mà chỉ chuyên chú vào đường công danh thì chỉ như con lợn Liêu Động mà thôi, thà làm con rồng náu ẩn còn hơn...”13.  
Rõ ràng bằng một tâm hồn yêu quý quê hương, Dương Văn An đã phác họa ra những trang lịch sử trung nghĩa thông qua những nhân vật lịch sử trên đất Ô châu. Nhờ có Ô châu cận lục mà chúng ta ngày nay biết được sự nghiệp của bao nhiêu nhân tài như Nguyễn Tử Hoan, Nguyễn Danh Cả, Phạm Tướng Quân,... và chính đó là sự kết tinh của lịch sử quê hương về nhiều mặt.
Để đánh giá đúng đắn về sự cống hiến của Dương Văn An trong kho tàng văn học cũng như sách Ô châu cận lục mà ông đã để lại cho đời, chúng tôi xin giới thiệu ý kiến của nhà nghiên cứu lịch sử văn học Lương An trong sách Danh nhân Văn hóa Quảng Bình như sau:[14]
“...Ô châu cận lục là quyển sách đầu tiên viết về Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên, và ông (Dương Văn An) là tác giả đầu tiên của địa phương. Mọi sự mở đầu bao giờ cũng đáng hoan nghênh! Và đáng ghi nhớ! Điều này càng có ý nghĩa hơn khi chúng ta biết rằng, trước ông và Ô châu cận lục, chúng ta chỉ có một bài Thuật Hoài của Đặng Dung, một bài biện của Bùi Dục Tài, mấy bài thơ của các nhân vật mà ông đã ghi lại, và dù kể cả người các nơi viết về Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên như Trương Hán Siêu, Lê Thánh Tông... thì tất cả vẫn còn là một con số quá khiêm tốn!
Hơn thế, sau ông, cũng phải đến hơn 100 năm, chúng ta mới có được một tác phẩm và một tác giả thứ hai: “HOA VĂN CÁO THỊ” của Nguyễn Hữu Dật, khiến chỗ đứng và cuốn sách của ông sống mãi trong lịch sử văn hóa Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên.
Không những thế, Ô châu cận lục còn đứng vững qua sự sàng lọc của hơn 400 năm[15] để đến với chúng ta, tự khẳng định là một tác phẩm, một tài sản có giá trị trong vốn văn hóa chung của dân tộc. Cái giá trị ấy trong quá khứ đã được thử thách hơn một lần: Lê Quý Đôn khi viết Đại Việt thông sử và Phủ Biên tạp lục đã sử dụng Ô châu cận lục. Các nhà biên soạn bộ Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn cũng luôn luôn trích dẫn cuốn sách của Dương Văn An, xem như một nguồn tư liệu phong phú và quý báu.
Mỗi chúng ta bây giờ, khi đọc Ô châu cận lục lại thấy rõ hơn quê hương xa xưa là như thế, cha ông ta trước kia là như vậy, mãnh đất ấy và những con người ấy thật vô cùng đáng tự hào (...) Chúng ta càng biết ơn Dương Văn An và Ô châu cận lục đã nối dài tầm nhìn của mình vào quá khứ của quê hương, nối liền sức mạnh của mình hôm nay và sức sống nghìn đời của dân tộc, từ đó nhận rõ thêm trách nhiệm đặt ra trước mắt đối với hiện tại và tương lai của Tổ Quốc, của Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế thân yêu”...[16]
 
 
 
 
1 Theo Lương An trong Danh Nhân Quảng Bình tập 1, Nxb Thuận Hoá, Huế, 1994.
2 Nhà xuất bản Văn hoá, Hà Nội, 1993 do Nguyễn Quang Thắng, Nguyễn Bá Thế soạn.
3 Theo Lương An trong Danh Nhân Quảng Bình tập 1, Nxb Thuận Hoá, 1994.
4 Theo Lịch sử Việt Nam, Nxb KHXH, Hà Nội 1976, Tập 1, tr.286.
5 Lương An: Dương Văn An - Nhà văn hoá, trong sách Danh nhân Văn hoá Quảng Bình, Nxb Thuận Hoá, Huế, 1994, Tập I,  tr.15-16.
6 Bùi Lượng dịch, Nxb Văn hoá Á Châu, Sài Gòn.
7 Nxb Thuận Hoá, Huế, 1994, Sđd.
8 Ô châu cận lục, Bùi Lượng dịch, Sđd.
9 Theo Phật giáo, đâu xuất là chỗ chín tầng mây. Ở đây tác giả muốn nói núi Đâu Mâu cao như đến chín tầng mây.
10 Ô châu cận lục (trích), Sđd.
11 So với tổng số trang của nội dung Ô châu cận lục (Bản dịch do Nxb Văn hoá Á Châu, Sài Gòn xuất bản, Bùi Lượng dịch). Thì phần con người (Nhân vật) Ô - Lý đã chiếm 37 trang trên 105 trang, thứ đến mục phong tục chiếm 22 trang và danh mục đồ bản (phủ, huyện, làng xã chiếm 12 trang, còn các phần khác mỗi phần từ 9 xuống 3 trang là cùng).
12 Đặng Dung con Đặng Tất.
13 Trích Ô châu cận lục, Sđd.
14 Do Nxb Thuận Hoá, Huế, 1994.
15 Ông Lương An tính đến ngày ông viết bài về tiểu sử Dương Văn An.
16 Trích bài viết của Lương An viết về Dương Văn An, Sđd.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

  • Đang truy cập3
  • Hôm nay248
  • Tháng hiện tại2,237
  • Tổng lượt truy cập124,296
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây